Và cuối cùng thì ngoài kia trời đang mưa. Mưa một cách nồng nhiệt, được cổ vũ bằng hàng tràng sấm đì đoành, rổn rảng y như một doanh trại pháo binh ven đô đang thả sức nổ pháo vào bầu trời thành phố. Mưa, và pháo binh tập trận.
Viết nhật ký, mà không, viết blog vào một buổi sáng thứ Hai hình như là một điều không bình thường, ở cả hai chữ Nhật ký và Thứ Hai. Vì lâu lắm rồi không viết một cái gì đó có thể đại khái gọi là nhật ký. Vẫn tin tuyệt đỉnh vào một nhận xét tuyệt đỉnh của ai đó, rằng những kẻ chăm chỉ viết nhật ký là những kẻ nắm chỉ số tự vẫn cao nhất. Đã lâu lắm rồi, kể từ cái hồi chỉ số tự vẫn còn khá cao, giờ đây lại bắt gặp mình đang làm cái việc giúp chỉ số này (về mặt nguyên tắc) tăng một cách đáng kể. Nhưng đó chỉ là về mặt nguyên tắc, còn hành vi ngồi kỳ cạch viết vào giữa một buổi sáng thứ Hai này không liên quan gì đến chuyện tự vẫn, mà như một hối thúc đến hồi mệt mỏi. Như một đứa bé đến kỳ đã chán ngán với thành bụng tối tăm và thứ ánh sáng đỏ quạch nhìn thấy được qua nhau thai, đã muốn phá bung cái màn bùng nhùng đỏ và chật chội ấy để tận mắt nhìn thấy ánh sáng và khí trời. Như tất thảy mọi thứ đã đến lúc, đến kỳ trên thế gian này. Cơn khát được viết ra một thứ gì đó, hay là tất cả những thứ đang bị nhốt chặt trong đầu, đến mức sắp nhũn ra, chảy ra, đã khiến sáng thứ Hai không có điều kiện được diễn ra theo trật tự như thông lệ bằng họp hành, báo cáo…, mà thành một buổi sáng mưa đi kèm với pháo binh.
Tóm lại là nhu cầu được viết. Được viết ra một cái gì đó, bất kể là cái gì, có thể gọi là nhật ký, là một blog post, là bất kỳ một dạng có thể gọi tên nào, nhưng đều chỉ có duy nhất một mục đích là được diễn đạt một cái gì đó trong đầu ra thành chữ. Thật là tệ hại! Một người sống vì chữ nghĩa, sống bằng chữ nghĩa, và phần lớn cuộc đời loay hoay nghĩ về nó, nhưng cuối cùng lại phải đấu tranh một cách thống khổ hàng ngày với bản thân là làm thế nào để đừng viết.
Cuộc đấu tranh này từng thất bại một lần, vào những năm cuối thập kỷ 90 và đầu những năm 2000. Những năm đó, bằng một nỗ lực chưa thể gọi là phi thường nhưng khá đáng kể, tự biến mình từ một kẻ có chỉ số tự vẫn cao, trở thành một người có chỉ số bình thường ở mức trung bình. Khi chỉ số tự vẫn tự chết đi, thì chỉ số bình thường sẽ ngày một cao lên, cho tới mức nó đạt tới ngưỡng trung bình khá, thậm chí là khá. Lúc đó thì, chưa hẳn là bi kịch, nhưng một kiểu hoàn cảnh trớ trêu thực sự nảy sinh, đối với một kẻ mới chỉ quen với cuộc sống xoay quanh những con chữ.
Cuộc đấu tranh đó đã thất bại thảm hại, chỉ số bình thường bị trả giá bằng những đau đớn về mặt tâm hồn, ở khía cạnh quan hệ yêu đương, cuộc sống, nhưng bù lại tâm hồn, với những chỉ số riêng của nó, lại được giải tỏa và bổ sung những nguồn năng lượng đáng kể. Đó là khi một cậu bạn, như bị một kẻ từ trên cao xúi giục, rỉ vào tai rằng: “Trong con người chị đã có một Carmen rồi, dù chị có tắt nhạc đi thì cô nàng vẫn nhảy, dù chị có ru cô ta ngủ thì một ngày kia cô ấy cũng sẽ choàng tỉnh dậy. Và khi đó, có nhạc nhẽo hay không, cô ấy vẫn nhảy múa. Và điệu múa khi không nhạc đó nó mới thực sự là điên cuồng.” Tất nhiên, cậu bạn đó không hoàn toàn nói như vậy, nhưng ý nghĩa của những gì cậu bạn đã rỉ vào tai thì tuyệt đối trọn vẹn là như thế.
Và cuộc đấu tranh đã thất bại thảm hại. Với sự ra đời của bốn chương năm 2001, và bỏ lửng luôn ở đó, khi chỉ số bình thường, một lẫn nữa lại có cơ hội trỗi dậy. Và lần đó, nó trỗi dậy khá lâu, với một sức sống dẻo dai, được bổ trợ bằng những trợ thủ mang tên hoàn cảnh, tiền bạc, gia đình, con cái và rất nhiều cái mác dấm dớ khác. Nhạc đã tắt. Đĩa than đã ra khỏi máy quay đĩa. Kim đã hỏng. Thứ được sinh ra để làm nhiệm vụ hát hỏng đã dùng thời gian để tự hủy hoại thiên chức của nó (cứ cho là nó thực sự có thiên chức đó). Nhưng không tránh khỏi được cái ngày đứa con gái ngủ bên cạnh cái máy hát hỏng bừng tỉnh và bắt đầu nhảy múa.
Lần này là cách đây chừng 2 tháng. Lần trước, cô nàng choàng tỉnh sau khi mình đọc “The Catcher in the Rye” (Bắt trẻ đồng xanh) của J. D. Salinger, mà nhân vật chính mới 17 tuổi. Lần này, cô nàng ngủ bớt mê mệt hơn nên liên hồi tỉnh giấc. Là khi phát giác ra “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần mà nhân vật chính mới 23 tuổi, là khi mải miết đọc “Suối nguồn” của Ayn Rand hay trong suốt khi ngâm ngợi lại toàn bộ Murakami – “Rừng Nauy”, “Phía Nam biên giới, Phía Tây mặt trời”, “Ngầm”, “Biên niên ký chim vặt giây cót”, “Người tình Sputnik”, “Ở xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới”. Và đặc biệt, “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ.” Hay là khi đối diện lại với Jaromil, Jan Mark (tên nhân vật) của Milan Kundera và sự kinh ngạc cứ lần hồi lớn lên vào mỗi lần đọc lại “Kẻ xa lạ” của Albert Camus…
Sáng ngủ dậy, trời đục như khói. Chồng không tin vào mắt đẩy cửa sổ thò tay ra ngoài hy vọng mưa sẽ chấm lên bàn tay. Nhưng không có giọt mưa nào cả. Mùa thu đã bắt đầu. Xỏ vào chân đôi tất đen ngắn đến mắt cá, xỏ tiếp vào đôi giày thể thao trắng. Xỏ quai của cái bình đựng nước màu xanh biển sâu vào ngón tay, rảo thật nhanh ra thang máy rồi xuống hầm. Chưa kịp quen với ý nghĩ đã là mùa thu, nên không buồn kéo cửa kính xuống để xem heo may năm nay có gì mới. Hai vợ chồng đến sân tập.
Thầy giáo dạy tennis chưa tới. Không nhớ hôm nay là buổi tập thứ bao nhiêu đã trải qua, chỉ có thể tính chừng hai mươi buổi nữa, nếu suôn sẻ, thì sẽ không còn cơ hội ra sân tập mỗi sáng, để tập trung thời gian và sức khỏe cho một việc hệ trọng khác. Trong tất cả những lần thầy huấn luyện đến muộn, trong lúc chồng co giãn các cơ để chuẩn bị cho ít nhất 30 phút không nghỉ tập quả trái, quả phải, đỡ bóng trên không và làm quen với một số động tác khó khác, thì mình thường ngồi ngái ngủ trên ghế và ước có thể nằm xuống ngủ tiếp. Nhưng sáng nào cũng vậy, khoảng trời còn lộ ra phía sau dãy nhà tập thể cũ bên cạnh sân bóng lúc nào cũng có một lũ mây chạy qua. Hôm nắng sớm thì mây vàng, mây hồng. Hôm âm u thì mây đen. Có lúc thì mây đen như một mẹ già khó tính nằm bên dưới, kèm cô con gái mây hồng mơn mởn đang tít mít theo gió phía trên. Hôm nay vẫn là một lũ mây, nhưng không hồng cũng không đen. Một thứ mây mùa thu. Và dù là mây nào, thì chúng cũng đặc biệt làm mình chú ý tới mức tỉnh ngủ.
Và vào đúng lúc cơn tỉnh ngủ nói lời chào buổi sáng, thì thầy huấn luyện sẽ xuất hiện. Đó là một cậu thanh niên rắn rỏi và nhỏ bé. Bắp chân của cậu có lẽ chỉ bằng cánh tay của một người vạm vỡ, nhưng những động tác đánh bóng của cậu thì hoàn hảo. Và qua chừng ấy buổi tập, có thể nói cậu là một giáo viên không hề tồi, có thể biến một kẻ một ngàn lần từ chối môn tennis và một ngàn lần tay không cầm nổi vợt, giờ đã có thể đánh được quả phải, quả trái và chạy liên tục trong vòng tối thiểu 20 phút.
Trong lúc chồng và thầy huấn luyện chuyện trò bằng những pha giao bóng và những màn không qua lưới thì mình bắt đầu chạy bộ. Chưa bao giờ suy tư nhiều về chạy bộ, ngay cả lúc ra khỏi nhà vào mỗi sáng, chạy (mà đúng hơn là đi bộ) hai vòng quanh hai cái hồ nhân tạo có rất nhiều liễu rủ xanh, bằng lăng nở tím và phượng rụng đỏ, thì cũng chưa một lần suy tư nhiều về chạy bộ. Thật đúng lúc là lại đọc lại Murakami và “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ” vào ngay lúc này. Mất tới 2 tuần để đọc lại. Lúc nào cũng mang quyển sách trong túi đeo vai và giở ra đọc bất kỳ khi nào có cơ hội. Nhưng cũng mất tới 2 tuần để kết thúc. Và kể từ lúc bắt đầu chạy bộ lại cùng Murakami đó, mỗi ngày đến sân tennis lại có những suy tư khác. Nếu Murakami đạt tới trạng thái rỗng không mỗi khi chạy bộ, thì mình lại đầy ưu tư mỗi lần ngồi trên sân tennis giữa lúc chờ đến lượt. Tất nhiên so sánh này hoàn toàn khập khiễng. Bởi vì trạng thái gần như rỗng không chỉ đạt được khi người ta vận động đến một mức nào đó, mà Murakami gọi là một trạng thái “thâm trầm, thậm chí là thiền định”. Còn mình hoàn toàn không vận động, mà ngồi giữa cái vận động của người khác, và ngẫm về những thứ đang biến đổi hàng ngày như đám mây bay qua khoảng sân hay mặt đường khô cong như một giờ trước chưa hề có một cơn mưa xối xả.
Trong những cơn trầm mặc đó, thường ít có những gương mặt vui và chỉ là những nhăn nheo, sù sì, thô ráp. Thường là những thứ làm cho chân mày trĩu xuống và mắt thì trũng sâu. Rõ ràng là những cơn trầm mặc có hại cho sức khỏe. Ở đâu đó người ta có nói: “Kỷ niệm hạnh phúc không còn là hạnh phúc, kỷ niệm đau khổ là đau khổ khôn nguôi.” Những ai đạt tới trang thái suy tư về những điều đã qua với hoàn toàn nhẹ nhõm và bình an, đó là người đã gần chạm tới cái hoàn thiện. Giữa độ tuổi ba mươi, hiếm ai dám nhận mình đã chạm tới cái ngưỡng ấy. Và những cơn suy tư cứ tiếp tục ngập tràn với những nỗi muộn phiền mênh mông. Cho tới khi nỗi hối thúc đến hồi mệt mỏi lại được tiếp sức bằng sự dẻo dai trong triết lý của một người chạy bộ, khiến cho mọi thứ muộn phiền bỗng trở nên vô nghĩa, và một thứ hối thúc khác lại đến. Thứ hối thúc được chạm tới cái hoàn thiện, tới cái nhẹ nhõm và bình an.
Và nó không gì khác hơn là việc ngồi nghe mưa và sấm đì đoàng như pháo binh tập trận. Là nhìn bầu trời một nửa vàng rờ rỡ và nửa còn lại mây đen ngút ngàn như phút giây khởi đầu của ngày tận thế. Là khi gạt lại hết mọi thứ, để chỉ duy nhất một thứ thôi, thực sự bắt đầu.
Cuối cùng thì những dòng này sẽ được publish dưới dạng một blog post. Nó sẽ không giúp gì cho ai, kể cả là nó có giúp gì cho ai, thì điều đó đâu có quan trọng gì. Quan trọng là mình hiểu được “Mình Nói Chuyện Gì Khi Mình Nói Chuyện Mình”! (Mượn của cả Raymond Carver và Murakami).
Hoa và Mưa sáng nay




























Recent Comments