Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện mình

Và cuối cùng thì ngoài kia trời đang mưa. Mưa một cách nồng nhiệt, được cổ vũ bằng hàng tràng sấm đì đoành, rổn rảng y như một doanh trại pháo binh ven đô đang thả sức nổ pháo vào bầu trời thành phố. Mưa, và pháo binh tập trận.

Viết nhật ký, mà không, viết blog vào một buổi sáng thứ Hai hình như là một điều không bình thường, ở cả hai chữ Nhật ký và Thứ Hai. Vì lâu lắm rồi không viết một cái gì đó có thể đại khái gọi là nhật ký. Vẫn tin tuyệt đỉnh vào một nhận xét tuyệt đỉnh của ai đó, rằng những kẻ chăm chỉ viết nhật ký là những kẻ nắm chỉ số tự vẫn cao nhất. Đã lâu lắm rồi, kể từ cái hồi chỉ số tự vẫn còn khá cao, giờ đây lại bắt gặp mình đang làm cái việc giúp chỉ số này (về mặt nguyên tắc) tăng một cách đáng kể. Nhưng đó chỉ là về mặt nguyên tắc, còn hành vi ngồi kỳ cạch viết vào giữa một buổi sáng thứ Hai này không liên quan gì đến chuyện tự vẫn, mà như một hối thúc đến hồi mệt mỏi. Như một đứa bé đến kỳ đã chán ngán với thành bụng tối tăm và thứ ánh sáng đỏ quạch nhìn thấy được qua nhau thai, đã muốn phá bung cái màn bùng nhùng đỏ và chật chội ấy để tận mắt nhìn thấy ánh sáng và khí trời. Như tất thảy mọi thứ đã đến lúc, đến kỳ trên thế gian này. Cơn khát được viết ra một thứ gì đó, hay là tất cả những thứ đang bị nhốt chặt trong đầu, đến mức sắp nhũn ra, chảy ra, đã khiến sáng thứ Hai không có điều kiện được diễn ra theo trật tự như thông lệ bằng họp hành, báo cáo…, mà thành một buổi sáng mưa đi kèm với pháo binh.

Tóm lại là nhu cầu được viết. Được viết ra một cái gì đó, bất kể là cái gì, có thể gọi là nhật ký, là một blog post, là bất kỳ một dạng có thể gọi tên nào, nhưng đều chỉ có duy nhất một mục đích là được diễn đạt một cái gì đó trong đầu ra thành chữ. Thật là tệ hại! Một người sống vì chữ nghĩa, sống bằng chữ nghĩa, và phần lớn cuộc đời loay hoay nghĩ về nó, nhưng cuối cùng lại phải đấu tranh một cách thống khổ hàng ngày với bản thân là làm thế nào để đừng viết.

Cuộc đấu tranh này từng thất bại một lần, vào những năm cuối thập kỷ 90 và đầu những năm 2000. Những năm đó, bằng một nỗ lực chưa thể gọi là phi thường nhưng khá đáng kể, tự biến mình từ một kẻ có chỉ số tự vẫn cao, trở thành một người có chỉ số bình thường ở mức trung bình. Khi chỉ số tự vẫn tự chết đi, thì chỉ số bình thường sẽ ngày một cao lên, cho tới mức nó đạt tới ngưỡng trung bình khá, thậm chí là khá. Lúc đó thì, chưa hẳn là bi kịch, nhưng một kiểu hoàn cảnh trớ trêu thực sự nảy sinh, đối với một kẻ mới chỉ quen với cuộc sống xoay quanh những con chữ.

Cuộc đấu tranh đó đã thất bại thảm hại, chỉ số bình thường bị trả giá bằng những đau đớn về mặt tâm hồn, ở khía cạnh quan hệ yêu đương, cuộc sống, nhưng bù lại tâm hồn, với những chỉ số riêng của nó, lại được giải tỏa và bổ sung những nguồn năng lượng đáng kể. Đó là khi một cậu bạn, như bị một kẻ từ trên cao xúi giục, rỉ vào tai rằng: “Trong con người chị đã có một Carmen rồi, dù chị có tắt nhạc đi thì cô nàng vẫn nhảy, dù chị có ru cô ta ngủ thì một ngày kia cô ấy cũng sẽ choàng tỉnh dậy. Và khi đó, có nhạc nhẽo hay không, cô ấy vẫn nhảy múa. Và điệu múa khi không nhạc đó nó mới thực sự là điên cuồng.” Tất nhiên, cậu bạn đó không hoàn toàn nói như vậy, nhưng ý nghĩa của những gì cậu bạn đã rỉ vào tai thì tuyệt đối trọn vẹn là như thế.

Và cuộc đấu tranh đã thất bại thảm hại. Với sự ra đời của bốn chương năm 2001, và bỏ lửng luôn ở đó, khi chỉ số bình thường, một lẫn nữa lại có cơ hội trỗi dậy. Và lần đó, nó trỗi dậy khá lâu, với một sức sống dẻo dai, được bổ trợ bằng những trợ thủ mang tên hoàn cảnh, tiền bạc, gia đình, con cái và rất nhiều cái mác dấm dớ khác. Nhạc đã tắt. Đĩa than đã ra khỏi máy quay đĩa. Kim đã hỏng. Thứ được sinh ra để làm nhiệm vụ hát hỏng đã dùng thời gian để tự hủy hoại thiên chức của nó (cứ cho là nó thực sự có thiên chức đó). Nhưng không tránh khỏi được cái ngày đứa con gái ngủ bên cạnh cái máy hát hỏng bừng tỉnh và bắt đầu nhảy múa.

Lần này là cách đây chừng 2 tháng. Lần trước, cô nàng choàng tỉnh sau khi mình đọc “The Catcher in the Rye” (Bắt trẻ đồng xanh) của J. D. Salinger, mà nhân vật chính mới 17 tuổi. Lần này, cô nàng ngủ bớt mê mệt hơn nên liên hồi tỉnh giấc. Là khi phát giác ra “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần mà nhân vật chính mới 23 tuổi, là khi mải miết đọc “Suối nguồn” của Ayn Rand hay trong suốt khi ngâm ngợi lại toàn bộ Murakami – “Rừng Nauy”, “Phía Nam biên giới, Phía Tây mặt trời”, “Ngầm”, “Biên niên ký chim vặt giây cót”, “Người tình Sputnik”, “Ở xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới”. Và đặc biệt, “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ.” Hay là khi đối diện lại với Jaromil, Jan Mark (tên nhân vật) của Milan Kundera và sự kinh ngạc cứ lần hồi lớn lên vào mỗi lần đọc lại “Kẻ xa lạ” của Albert Camus

Sáng ngủ dậy, trời đục như khói. Chồng không tin vào mắt đẩy cửa sổ thò tay ra ngoài hy vọng mưa sẽ chấm lên bàn tay. Nhưng không có giọt mưa nào cả. Mùa thu đã bắt đầu. Xỏ vào chân đôi tất đen ngắn đến mắt cá, xỏ tiếp vào đôi giày thể thao trắng. Xỏ quai của cái bình đựng nước màu xanh biển sâu vào ngón tay, rảo thật nhanh ra thang máy rồi xuống hầm. Chưa kịp quen với ý nghĩ đã là mùa thu, nên không buồn kéo cửa kính xuống để xem heo may năm nay có gì mới. Hai vợ chồng đến sân tập.

Thầy giáo dạy tennis chưa tới. Không nhớ hôm nay là buổi tập thứ bao nhiêu đã trải qua, chỉ có thể tính chừng hai mươi buổi nữa, nếu suôn sẻ, thì sẽ không còn cơ hội ra sân tập mỗi sáng, để tập trung thời gian và sức khỏe cho một việc hệ trọng khác. Trong tất cả những lần thầy huấn luyện đến muộn, trong lúc chồng co giãn các cơ để chuẩn bị cho ít nhất 30 phút không nghỉ tập quả trái, quả phải, đỡ bóng trên không và làm quen với một số động tác khó khác, thì mình thường ngồi ngái ngủ trên ghế và ước có thể nằm xuống ngủ tiếp. Nhưng sáng nào cũng vậy, khoảng trời còn lộ ra phía sau dãy nhà tập thể cũ bên cạnh sân bóng lúc nào cũng có một lũ mây chạy qua. Hôm nắng sớm thì mây vàng, mây hồng. Hôm âm u thì mây đen. Có lúc thì mây đen như một mẹ già khó tính nằm bên dưới, kèm cô con gái mây hồng mơn mởn đang tít mít theo gió phía trên. Hôm nay vẫn là một lũ mây, nhưng không hồng cũng không đen. Một thứ mây mùa thu. Và dù là mây nào, thì chúng cũng đặc biệt làm mình chú ý tới mức tỉnh ngủ.

Và vào đúng lúc cơn tỉnh ngủ nói lời chào buổi sáng, thì thầy huấn luyện sẽ xuất hiện. Đó là một cậu thanh niên rắn rỏi và nhỏ bé. Bắp chân của cậu có lẽ chỉ bằng cánh tay của một người vạm vỡ, nhưng những động tác đánh bóng của cậu thì hoàn hảo. Và qua chừng ấy buổi tập, có thể nói cậu là một giáo viên không hề tồi, có thể biến một kẻ một ngàn lần từ chối môn tennis và một ngàn lần tay không cầm nổi vợt, giờ đã có thể đánh được quả phải, quả trái và chạy liên tục trong vòng tối thiểu 20 phút.

Trong lúc chồng và thầy huấn luyện chuyện trò bằng những pha giao bóng và những màn không qua lưới thì mình bắt đầu chạy bộ. Chưa bao giờ suy tư nhiều về chạy bộ, ngay cả lúc ra khỏi nhà vào mỗi sáng, chạy (mà đúng hơn là đi bộ) hai vòng quanh hai cái hồ nhân tạo có rất nhiều liễu rủ xanh, bằng lăng nở tím và phượng rụng đỏ, thì cũng chưa một lần suy tư nhiều về chạy bộ. Thật đúng lúc là lại đọc lại Murakami và “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ” vào ngay lúc này. Mất tới 2 tuần để đọc lại. Lúc nào cũng mang quyển sách trong túi đeo vai và giở ra đọc bất kỳ khi nào có cơ hội. Nhưng cũng mất tới 2 tuần để kết thúc. Và kể từ lúc bắt đầu chạy bộ lại cùng Murakami đó, mỗi ngày đến sân tennis lại có những suy tư khác. Nếu Murakami đạt tới trạng thái rỗng không mỗi khi chạy bộ, thì mình lại đầy ưu tư mỗi lần ngồi trên sân tennis giữa lúc chờ đến lượt. Tất nhiên so sánh này hoàn toàn khập khiễng. Bởi vì trạng thái gần như rỗng không chỉ đạt được khi người ta vận động đến một mức nào đó, mà Murakami gọi là một trạng thái “thâm trầm, thậm chí là thiền định”. Còn mình hoàn toàn không vận động, mà ngồi giữa cái vận động của người khác, và ngẫm về những thứ đang biến đổi hàng ngày như đám mây bay qua khoảng sân hay mặt đường khô cong như một giờ trước chưa hề có một cơn mưa xối xả.

Trong những cơn trầm mặc đó, thường ít có những gương mặt vui và chỉ là những nhăn nheo, sù sì, thô ráp. Thường là những thứ làm cho chân mày trĩu xuống và mắt thì trũng sâu. Rõ ràng là những cơn trầm mặc có hại cho sức khỏe. Ở đâu đó người ta có nói: “Kỷ niệm hạnh phúc không còn là hạnh phúc, kỷ niệm đau khổ là đau khổ khôn nguôi.” Những ai đạt tới trang thái suy tư về những điều đã qua với hoàn toàn nhẹ nhõm và bình an, đó là người đã gần chạm tới cái hoàn thiện. Giữa độ tuổi ba mươi, hiếm ai dám nhận mình đã chạm tới cái ngưỡng ấy. Và những cơn suy tư cứ tiếp tục ngập tràn với những nỗi muộn phiền mênh mông. Cho tới khi nỗi hối thúc đến hồi mệt mỏi lại được tiếp sức bằng sự dẻo dai trong triết lý của một người chạy bộ, khiến cho mọi thứ muộn phiền bỗng trở nên vô nghĩa, và một thứ hối thúc khác lại đến. Thứ hối thúc được chạm tới cái hoàn thiện, tới cái nhẹ nhõm và bình an.

Và nó không gì khác hơn là việc ngồi nghe mưa và sấm đì đoàng như pháo binh tập trận. Là nhìn bầu trời một nửa vàng rờ rỡ và nửa còn lại mây đen ngút ngàn như phút giây khởi đầu của ngày tận thế. Là khi gạt lại hết mọi thứ, để chỉ duy nhất một thứ thôi, thực sự bắt đầu.

Cuối cùng thì những dòng này sẽ được publish dưới dạng một blog post. Nó sẽ không giúp gì cho ai, kể cả là nó có giúp gì cho ai, thì điều đó đâu có quan trọng gì. Quan trọng là mình hiểu được “Mình Nói Chuyện Gì Khi Mình Nói Chuyện Mình”! (Mượn của cả Raymond Carver và Murakami).

IMG 7589 Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện mình

Hoa và Mưa sáng nay

Google+ tận dụng ưu thế từ nền tảng giao tiếp của Google

By Charlene Li

Tôi đang theo dõi việc ra mắt “Google+” với sự thích thú đặc biệt bởi vì trọng tâm của nó có vẻ chính là các công cụ “quản lý bạn bè”.

Quản lý bạn bè (friend management) là một thứ rất tai ương trong kinh nghiệm của tôi khi sử dụng Facebook, bởi vì tôi không muốn chia sẻ mọi thứ với tất cả mọi người. Tôi cũng đã phạm phải một sai lầm là chấp nhận làm bạn với quá nhiều lời mời kết bạn và kết quả là tôi chia sẻ rất ít những gì mang tính cả nhân trên tài khoản riêng của mình. Cho dù Facebook cũng có những công cụ như Groups và friend lists, nhưng chúng quá phức tạp và khó dùng.

Google vs. Facebook Google+ tận dụng ưu thế từ nền tảng giao tiếp của Google

Google+ tận dụng thực tế rằng bạn đã có những người bạn “thật” (real) trong danh sách của mình và thậm chí có thể đã được sắp xếp, phân loại trong sổ địa chỉ của bạn. Điều này là rõ ràng nhất nếu bạn đang sử dụng Gmail. Hãy nhìn vào sổ địa chỉ trong Gmail của bạn và bạn sẽ thấy top 20 contacts đã được xác định sẵn. Google biết điều này, và cũng biết ai là người bạn thường xuyên viết thư qua lại trong cùng một nhóm (ví dụ hội phụ huynh, câu lạc bộ sách, những người trong gia đình, .v.v…) và sử dụng những thông tin này để phân tích và gợi ý ra các nhóm một cách tự nhiên để bạn tham gia vào dưới hình thức các vòng tròn Google+ (Google+ Circles).

Google có thể tận dụng tất cả những thông tin về hành vi người dùng này vào việc giúp bạn dễ dàng quản lý các mối quan hệ của mình. Bởi vì càng đối diện với vấn đề này – với những người mà bạn chia sẻ thông tin, và với những gì mà bạn chia sẻ, sẽ cung cấp những phân tích thực sự quý báu trong việc phân loại một cách tự nhiên các mối quan hệ.

Bây giờ thì nói đến phần kinh khủng nhất là quyền riêng tư (privacy) – hãy nhớ rằng Google cũng “đọc” nội dung email của bạn và cho bạn xem các quảng cáo bên lề Gmail. Phần lớn chúng ta vượt qua được chuyện này. Nhưng sẽ thế nào nếu tôi trao quyền (nhớ là: sự cho phép là vô cùng quan trọng!) cho Google được phép gợi ý cho tôi nếu và khi nào tôi nên thêm (add) một ai đó vào nhóm của mình? Nếu tôi viết thư thường xuyên với một ai đó nói về việc đạp xe, Google+ có thể gợi ý rằng tôi nên add người đó vào vòng tròn (Circle) đạp xe của mình. Về cơ bản, bạn phải có một mối quan hệ sâu sắc và tin tưởng với Google ở nhiều cấp độ khác nhau thì điều này mới xảy ra được. Tuy nhiên nó lại có thể mang lại cho bạn lợi ích rất lớn. (Xem bài viết “In Google I Trust” – Tôi tin vào Google, của tôi để tìm hiểu thêm về chủ đề này).

Mức độ tin cậy đó sẽ tiến thêm một bước mới nếu bạn có một chiếc điện thoại Android. Bạn có sẵn sàng để Google điều tra các quan hệ, cuộc gọi, tin nhắn trên điện thoại của mình để giúp bạn xây dựng những trải nghiệm xã hội mới với những người mà bạn giao tiếp nhiều nhất không? Thế còn với các dữ liệu của Google Calender hay là Google Voice thì sao?

Tôi nói điều này bởi vì phần lớn các giao tiếp của tôi, cả ở mặt cá nhân lẫn công việc, đều chạy trên các nền tảng của Google. Facebook không có những phân tích sâu sắc về tất cả những chia sẻ thực (real) mà tôi có trong cuộc sống thực của tôi, trong khi Google thì làm được điều đó.

Tôi tin vào câu chuyện Google+ bởi Google có năng lực tự nhiên để lôi kéo các nhóm người dùng lại với nhau dựa trên những hình thức giao tiếp đã có, và cũng tận dụng các nhóm tự nhiên hiện đã sử dụng các nền tảng giao tiếp này. Sẽ không có khó khăn gì cho những người đang sử dụng Gmail bắt tay vào sử dụng Google+, nhưng sẽ khó khăn hơn nhiều đối với những người không dùng Gmail.

Kết quả là, việc chia sẻ trên nền tảng Google sẽ được thống nhất, ngược với việc thống nhất chia sẻ bằng tin nhắn. Điều này sẽ không xảy ra sau một đêm và sẽ còn xa Google mới trở thành “kẻ giết chết Facebook”. Đúng hơn, đó là một sự dịch chuyển thông minh của Google để tận dụng thế mạnh của nó trong các nền tảng giao tiếp, các thuật toán và sự tin tưởng của người dùng chủ chốt để đi vào bài toán social.

Cuối cùng, tôi không mong đợi Facebook sẽ đứng mãi như vậy. Bạn hãy chờ xem, trong một ngày không xa, Facebook sẽ sốt sắng cải thiện các công cụ quản lý bạn bè của mình. Nhưng cho dù thế nào, họ cũng sẽ thiếu sự thông minh cần thiết trong việc hiểu hành vi của người dùng để giúp tôi thực sự có thể quản lý được bạn bè của mình, trừ khi tôi là một người quá tôn sùng Facebook.

Link gốc: Google+ Leverages Google’s Strength as a Communications Platform

Google có quá chậm chân với dự án Google+?

Thứ ba vừa rồi Google đã thông báo về một nền tảng mạng xã hội mới với tên gọi “the Google+ project”. Dự án này rõ ràng có bóng dáng của Facebook nhưng liệu nó có thành công không, hay lại đi theo con đường của Google Buzz, Orkut hay Google Wave?

Chắc chắn sẽ có rất nhiều đồn thổi, tôi không hề có ý định chơi chữ ở đây, về “dự án Google+” này, và sau tất cả những gì Google đã có, chắc chắn dự án này sẽ nhận được sự quan tâm của rất nhiều người. Rất nhiều bài báo đã viết về dự án này, và tôi mời bạn, ở đây thì có chơi chữ, hãy Google “the Google+ project” và tìm đọc thêm.

Một bài báo khiến tôi chú ý đó là bài đăng trên The New York Times. Trong bài báo này, họ đưa ra một lập luận hết sức thuyết phục rằng Google thực tế có thể đã quá chậm chân trong màn khiêu vũ Social Media, và họ đưa ra dẫn chứng rằng “Vào tháng Năm vừa qua, có 180 triệu người truy cập các sites của Google, bao gồm cả YouTube, trong tương quan so sánh với 157.2 triệu người truy cập Facebook, theo thống kê của comScore. Nhưng những người dùng Facebook đã đọc 103 tỷ trang và dành trung bình 375 phút cho sites này, trong khi người dùng Google chỉ đọc có 46.3 tỷ trang và dành 231 phút.”

Bạn hãy tính đến độ chênh giữa 103 tỷ trang của Facebook và hơn 46 tỷ trang của Google.

google+ Google có quá chậm chân với dự án Google+?

Một trong những lợi thế cạnh tranh (hay còn gọi là USP) lớn nhất của Google, hoặc ít nhất là Google đang hy vọng như vậy, đối với dự án này là việc thiết kế đặc biệt để người dùng lựa chọn chia sẻ nội dung với các nhóm (groups) ví dụ như bạn bè, gia đình, đồng nghiệp .v.v… chứ không cùng lúc chia sẻ với tất cả các bạn bè có trong danh sách, và quan trọng hơn là với tất cả thể giới trên internet như khi viết trên Facebook.

Tôi không chắc lắm nếu chỉ mình tính năng này có thể đủ để thuyết phục mọi người sử dụng thêm một mạng xã hội nữa, cho dù mạng đó có được đi dưới cái tên Google. Một lần nữa, tôi lại nhắc đến việc đã xảy ra như đối với các dự án Google Buzz, Orkut và Google Wave như là các dẫn chứng điển hình được đánh số A, B, C để thấy rằng có thêm chữ Google trong tên gọi không thể đảm bảo một tương lại rực rỡ cho một dự án nào đó.

Tiếp đến chính bản thân tên gọi của dự án này, theo Vic Gundotra, Phó Chủ tịch Cao cấp của Google, người giám sát các sản phẩm social của Google, thì chữ “Plus” (cộng) phản ánh một thực tế rằng “đây là một sản phẩm của Google và Google sẽ làm cho nó tốt hơn, và chữ “dự án” được dùng bởi vì nó không phải là một sản phẩm mà sẽ là một bộ các sản phẩm.” Trong khi đó thì nguồn tin nội bộ, theo như New York Post, cho biết dự án này được trong nhà gọi là “Emerald Sea”.

Nếu chỉ có 2 lựa chọn để gọi tên, tôi sẽ chọn Emerald Sea. Ít nhất nó gợi lên được tầm nhìn của Dorothy và Toto cùng những cộng sự của mình và tất cả những điều đẹp đẽ khác.

“the Google+ project” có vẻ như đang trở thành một đối thủ trực tiếp của Facebook, nhưng ngài Gundotra nói nó không chỉ có vậy. “Chúng tôi không cố gắng để thay thế những gì hiện có, chúng tôi chỉ muốn đem đến một cách kết nối mới trên môi trường online giữa bạn và những người bạn thực sự quan tâm.”

Và nếu bạn tin vào điều đó… bạn đã hiểu ý tôi rồi đấy! Và có thể ngài Gundotra đã thành thực khi nói Google không cố gắng thay thế “cái hiện có” một cách nói không trực diện ám chỉ Facebook nhưng có một điều chắc chắn là Google thèm muốn miếng bánh mạng xã hội đang phát triển chưa từng có và đã mệt mỏi đứng nhìn ngài Zuckerberg làm mưa làm gió.

Và nếu bạn đang quan tâm, thì đây là một đoạn video ngắn Google thực hiện để giới thiệu “the Google+ project”.

Link gốc: Is Google Too Late with the Google+ Project?

Asia Digital Marketing Yearbook 2011

Số thứ Năm của phiên bản hàng năm về Digital Marketing của khu vực Châu Á vừa được công bố, với nhiều dữ liệu và phân tích hơn bao giờ hết dành cho những người làm marketing trong khu vực.

Hiệp hội Digital Marketing Châu Á (ADMA) đã hợp tác với những công ty digital marketing và những chuyên gia nghiên cứu hàng đầu để cho ra đời ấn bản này. Phiên bản năm nay đã mở rộng các phân đoạn thị trường hơn, bao gồm cả social media cũng như có nhiều thông tin hơn về các đặc điểm nhân khẩu của người dùng online, thói quen của người dùng cũng như quảng cáo trực tuyến, mobile và thương mại điện tử.

Yearbook này được biên soạn nhằm phục vụ cho các đối tượng là những người làm marketing, các nhà quảng cáo, các đơn vị cung cấp dịch vụ và cho những ai quan tâm tới tiềm năng của digital trong hoạt động kinh doanh của mình tại khu vực Châu Á.

Yearbook gồm 98 trang và miễn phí cho thành viên đăng ký.

Bạn có thể  download tại đây

11 Asia Digital Marketing Yearbook 201121 Asia Digital Marketing Yearbook 20115 Asia Digital Marketing Yearbook 20116 Asia Digital Marketing Yearbook 20117 Asia Digital Marketing Yearbook 2011

81 Asia Digital Marketing Yearbook 2011

91 Asia Digital Marketing Yearbook 2011

111 Asia Digital Marketing Yearbook 2011

Những thống kê “khủng” về Facebook

Chúng ta nói rất nhiều về cuộc cách mạng số trong đó truyền thông truyền thống đang bị đặt trước những cụm từ: biến động, thụt giảm về độc giả và công chúng, phá sản, nhường sân chơi… Bài viết này sẽ cập nhật những thông tin và số liệu mới nhất về vấn đề này.

Bức tranh vào năm 2011 thực sự trông như thế nào? Truyền thông truyền thống không chết – hoặc ít nhất là chưa chết. Nhưng rất nhiều tay chơi mới đã tiến vào lãnh địa marketing trong vòng từ 10 đến 15 năm qua. Hãy nhìn những gì xảy ra với Facebook.

mark Những thống kê khủng về Facebook

Độ phủ

Toàn cầu

  • 700 triệu thành viên trên toàn cầu (theo SocialBakers / Mashable 2011/05)
  • Cứ 13 người có mặt trên trái đất thì có 1 người trên Facebook
  • Nếu Facebook là một quốc gia thì nó sẽ là quốc gia lớn thứ 3 trên thế giới, lớn hơn Mỹ, Brazil, Nga và Nhật Bản.
  • Facebook hiện hữu ở 70 ngôn ngữ trên toàn cầu (Theo Facebook press room).
  • 70% người dùng Facebook sống bên ngoài nước Mỹ (Theo Facebook press room).
  • Ngành phát thanh mất 38 năm để đạt được con số 50 triệu người nghe. Truyền hình mất 13 năm. Internet mất 4 năm… Còn Facebook chỉ mất ít hơn 9 tháng để đạt được con số 100 triệu người dùng. Các ứng dụng trên iPhone dành cho Facebook được tải về (tổng cộng) đạt 1 tỷ trong vòng 9 tháng.
  • Mỗi ngày có 700,000 người mới tham gia vào Facebook (Theo DBA Worldwide)

Mỹ

  • Là site đứng thứ 3 về chia sẻ video được xem nhiều nhất tại Mỹ vào tháng 7/2009 tính trên số lượt xem (Theo Nielsen VideoCensus)
  • Hàng tháng, 113 triệu người Mỹ có mặt trên Facebook (Theo Compete Inc 9 June 2009)
  • 33% dân số Mỹ là thành viên của Facebook (theo @JustinSmith)
  • 33.3% số người online ở Mỹ đọc tin tức nhờ Facebook (Theo Razorfish FEED09)
  • 100 triệu visitors vào tháng 11 2009 tại Mỹ = 5.5% tổng số thời gian online (so với 2.5% năm 2008) (theo comScore Nov.09)
  • 62.4% dân số Mỹ dùng Facebook hàng tháng so với 24.3% số người sử dụng MySpace (theo comScore 2010/09)
  • 42.3% dân số Mỹ sử dụng Facebook hàng tháng (theo eMarketer 2011/02)
  • 33% số người sử dụng online video (58.6M) xem video trên Facebook (243 video/người) khiến Facebook trở thành trang chia sẻ video lớn thứ 2 sau Google/YouTube, lớn hơn Yahoo (theo Marketing Charts 2010/08)

Trung Quốc

facebook funny e1298361775169 Những thống kê khủng về Facebook

Canada

  • 19.6 triệu người Canada, 3.5 triệu người nói tiếng Pháp sử dụng Facebook (theo comScore 2009/07)
  • 62% dân số Quebec (cho dù có dùng pc hay không) hoạt động trên Facebook hàng tháng (theo comScore 2010/08 + StatsCan)
  • 26% người Canada kết nối trực tuyến trên Facebook hàng ngày so với 4% sử dụng YouTube, 4% dùng MySpace và 3% cho Twitter (theo Cossette 2009/11)

Pháp

  • 15 triệu người Pháp sử dụng Facebook thường xuyên (theo Mashable) tương đương với cứ 4 người thì có 1 người dùng!
  • 95% thành viên của tất cả các mạng xã hội ít nhất đều có mặt trên Facebook, 60% sử dụng hàng ngày (theo Jean-Nicolas Reyt)
  • 30.4% những người dùng Internet tại Pháp sử dụng Facebook (theo Inside Facebook 2010/08)

Anh

  • 6.2% lượt truy cập của tất cả các website tại Anh là vào trang Facebook. (theoHitwise Mars 2010)
  • Facebook chiếm 50% toàn bộ traffic của tất cả các mạng xã hội tại Anh, tiếp đến là YouTube chiếm 17%, Twitter chiếm 2% và MySpace at 1.3%
  • 44.2% số người sử dụng Internet tại Anh truy cập Facebook (theo Inside Facebook 2010/08)

Nhật

  • 3% số người dùng Internet tại nước này dùng Facebook thường xuyên và mỗi tháng chỉ dành cho nó 31 phút. (theo Jean-Nicolas Reyt)

Đặc điểm người dùng

  • Trung bình một người dùng Facebook có 130 bạn (Theo Facebook press room)..
    • Độ tuổi trung bình của người dùng là 26
    • Mỗi tháng một người dùng quay trở lại Facebook trên 40 lần và mỗi lần dành cho nó 23 phút
    • Mỗi người like 80 trang cộng đồng, nhóm và sự kiện (community pages, groupes or events)
    • Mỗi người tạo ra 90 mục nội dung mỗi tháng
    • Mỗi ngày có 30 tỷ nội dung được chia sẻ
    • Mỗi tháng có 770 tỷ lượt xem trang (page views)
  • Nhóm người dùng phát triển nhanh nhất trên Facebook là phụ nữ ở độ tuổi 55-65. (Theo Facebook press room).
  • Phụ nữ chiếm ưu thế hơn trên Facebook với 57% (theo InformationIsBeautiful.net)
  • Facebook là mạng xã hội được Baby Boomers yêu thích hơn so với các mạng khác (theo eMarketer via Six Pixels of Separation)
  • 57% số thành viên nữ ở độ tuổi 18-34 cho biết họ nói chuyện với những người bạn online nhiều hơn so với offline.(theo Oxygen Media 2010/07)
    • 39% cho biết họ kết nối nhờ Facebook
    • 34% cho biết lướt Facebook là việc làm đầu tiên trong ngày, trước cả việc đi vệ sinh, đánh răng hay chải đầu…
    • 21% mở Facebook ra đọc vào nửa đêm
    • 42% tin rằng không có gì bất ổn nếu đăng những ảnh say xỉn của bản thân lên Facebook
    • 50% cảm thấy không có vấn đề gì trong việc kết bạn với những người hoàn toàn lạ
    • 9% phụ nữ trên Facebook đã chia tay bạn trai của mình bằng Facebook, với nam giới, tỷ lệ này là 24%.
  • 23% số người trên 50 tuổi thích Facebook hơn MySpace và Twitter (theo AARP 2010/06).

facebook funny Những thống kê khủng về Facebook

Mức độ sử dụng

  • 35 triệu người dùng cập nhật trạng thái (status) mỗi ngày (theo Website Monitoring Blog và Facebook press page)
    • 60 triệu status được update mỗi ngày (theo Facebook Blog).
    • 10 triệu người dùng trở thành fan của một nhãn hàng nào đó mỗi ngày (theoFacebook Blog).
    • Hiện có 45 triệu nhóm người dùng trên FB (theo Facebook Blog).
    • 3 tỷ bức ảnh được up lên mỗi tháng
    • 5 triệu nội dung được up lên mỗi tuần
    • 3.5 triệu sự kiện được tạo ra mỗi tháng
    • 3 triệu trang doanh nghiệp (business pages) đang hoạt động trên Facebook
    • 1.5 triệu doanh nghiệp tạo ít nhất một page
    • Hàng ngày có 20 triệu người dùng trở thành fan của một page nào đó
  • Trung bình, một người trẻ tuổi truy cập Facebook trên 16 lần / tuần (theo Cossette2009/11)
  • Năm 2010, Facebook có nhiều lượt truy cập hơn so với Google theo Experian Hitwise (Mashable (2010/12) chiếm 8.93% số lượt truy cập của tất cả các website tại Mỹ so với Google chiếm 7.19%.
  • Trung bình mỗi người đọc 661.8 trang nội dung mỗi tháng trên Facebook, cao hơn rất nhiều so với đối thủ gần nhất là Hi5 với 351.2 trang và MySpace là 261.8 trang (theo Pingdom.com)
    • Tính số pages view trên mỗi lượt truy cập, Friendster cao nhất với 30 page views, sau đó là Hi5 (29.3), Bebo (28.3), Facebook (23.6) và MySpace (21.8).
    • Tính lượt truy cập hàng tháng, Facebook chiếm ưu thế với con số 28 ngày/tháng (gần như là hàng ngày), theo sau là Hi5 (12 ngày), MySpace (12 ngày), Slashdot (11 ngày) và Twitter (9 ngày)
  • Các nghệ sỹ nhận trung bình 92 likes và 17 comments cho mỗi post trên Facebook, so với tỷ lệ này của báo chí là 57 & 43 và các thương hiệu là 54 & 9 (theo Visibli 2011/04)
    • 50% số Likes tích lũy được trong vòng 20 phút sau khi post

9 57 Những thống kê khủng về Facebook

Sử dụng trên Mobile

  • 250 triệu truy cập thông qua các thiết bị di động hàng ngày (theo MediaPost 2011/04)
  • Người sử dụng Facebook bằng mobile năng động gấp đôi so với những người không dùng mobile để truy cập Facebook (theo Facebook Blog).

Thời gian sử dụng

  • 120 triệu thành viên truy cập vào Facebook hàng ngày – trên 5 tỷ phút được sử dụng mỗi ngày (tương đương với 83,3 triệu giờ, hay 3,47 triệu ngày, hay 496 000 tuần, hoặc 9 539 năm!!!).
  • Trung bình một người dành 15 giờ 33 phút mỗi tháng = 32 phút mỗi ngày (bao gồm cả cuối tuần)
    • 8 tỷ phút được dành cho Facebook mỗi ngày (theo Facebook Blog).
  • Là trang đứng đầu về số thời gian truy cập chiếm 11.6% toàn bộ thời gian online của nước Mỹ so với Yahoo (4.25%) và Google (4.1%) (theo Compete.com 2010/01)

Nguồn nhân lực

Sử dụng trong Marketing

  • 99% các nhà bán lẻ trực tuyến có tài khoản Facebook
  • 37% số người dùng theo dõi một nhãn hàng độc quyền nào đó (theo Razorfish Nov.09)
  • Trên 300 000 công ty có mặt trên Facebook.
  • 77% số Fan Pages trên Facebook có ít hơn 1 000 fans (theo TechCrunch/Sysomos)
  • 4% số Fan Pages trên Facebook có nhiều hơn 10 000 fans (theoTechCrunch/Sysomos)
  • 11.9% số Fan Pages trên Facebook là các trang dành cho sản phẩm, chủ yếu 46% trong số này là các sản phẩm giải trí (phim, nhạc, các ngôi sao, video games…) (theo TechCrunch/Sysomos)
  • Trung bình, một Fan Page có 4 596 fans (theo Sysomos) Các sản phẩm hàng đầu là:
    • Starbucks – 5 113 068 fans
    • Dippin’ Dots – 898 722
    • In-N-Out – 417 190
    • Domino’s Pizza – 323 856
    • Subway – 321 396
  • Facebook (với 23%) là công cụ social với giá trị sử dụng lớn thứ 2 đối với các nhà marketing, chỉ đứng sau LinkedIn (26%) và cao hơn Twitter (17%) (theo Unisfair).
  • 56% những người mua sắm trực tuyển tại Mỹ tham khảo trên Facebook trước tiên để tìm các mẹo mua sắm cũng như các bình luận về sản phẩm (theo ForeSee Results 2010)
  • 87% những người làm marketing cho các doanh nghiệp nhỏ trên toàn cầu sử dụng Facebook, là công cụ social media đứng thứ 2 mà họ sử dụng, sau Twitter (theo (Social Media Marketing Industry Report 2010)
  • 66% các trang trên Top 100 của comScore tại Mỹ và 50% Top 100 các site trên toàn cầu có tích hợp với Facebook (theo Danny Brown)
  • 55% sử dụng tại văn phòng (theo Jean-Nicolas Reyt)
  • $0.56 = trung bình CPM, thấp hơn 4 lần so với trung bình online vào khoảng 2.43$ (theo Jean-Nicolas Reyt)
  • 17%  số người sử dụng Facebook sẵn sàng mua sản phẩm, dịch vụ của một nhãn hàng mà họ follow / like, so với 37% trên Twitter và 27% qua email (theoExactTarget eMarketer 2010/09)
    • 21% số người sử dụng Facebook sẵn sàng giới thiệu một nhãn hàng họ thích, so với tỷ lệ này ở Twitter là  33% và 24% đối với email
  • 36% số fans của các nhãn hàng trên Facebook muốn mua sản phẩm của công ty mà họ thích nhờ vào nút “Like” hơn trước kia, so với 61% những sản phẩm không không có like (theo DDB Worldwide / OpinionWay Research 2010/10)
  • 1.86 tỷ $ là doanh số quảng cáo trên Facebook năm 2010 (theo Mashable 2011/01)
  • 50% = hiệu quả quảng cáo trên Facebook so với bất kỳ nơi nào trên web. (theo Jeff Bullas 2011/02)
  • Twitter và Facebook có ảnh hưởng (28%) tới sức mua của Holiday Shopping (theo comScore)
  • Facebook được coi là TỐI QUAN TRỌNG đối với 44% các công ty ở Bắc Mỹ vào năm 2011 (theo eMarketer / HubSpot 2011/02)
  • Thống kê trung bình dành cho top 100 thương hiệu trên Facebook (theo Wongdoody / eMarketer 2011/02)
    • 1.8 triệu fans
    • 24 posts mỗi tháng
    • 857 fan posts mỗi tháng
    • 1,456 likes mỗi tháng
    • 157 comments mỗi tháng
    • 88% post video
    • 82% trưng cầu ý kiến/câu chuyện từ fan
    • 79% cho phép fans viết tự do lên wall
    • 66% tích cực trả lời các post của fan
  • 95% các doanh nghiệp nhỏ tại Mỹ sử dụng social media để làm online marketing sử dụng Facebook, sau đó đến Twitter 60%, LinkedIn 58% và YouTube 45% (theoConstant Contact 2011/03)
    • 82% coi Facebook là một công cụ marketing hiệu quả, tỷ lệ này là 73% đối với YouTube, 55% đối với các giao dịch trên địa bàn và 47% đối với Twitter & LinkedIn
    • 95% sử dụng website marketing, 91% dùng email marketing, 77% dùng quảng cáo báo in, 53% dùng event marketing và 69% sử dụng quảng cáo online.
  • Facebook Connect chiếm 35% thời gian sử dụng của toàn bộ người dùng web trên thế giới, so với 31% dành cho Google, 13% dành cho Yahoo, 7% dành hco Twitter. (theo Janrain 2011/04)
    • Facebook Connect chiếm 58% thời gian chia sẻ nội dung của người dùng, so với 32% dành cho Twitter, 13% dành cho LinkeIn và 9% dành cho Yahoo.

Nguồn Performance Indicators: Facebook

Tôi nghiện phim Hàn Quốc

Hôm qua, từ lúc chuẩn bị ra cho tới lúc ra khỏi toilet, lại âm ỉ suy ngẫm về một sự kiện nhạt nhẽo trong đời, là dạo này, khoảng một hai năm nay, mình bỗng đâm ra nghiện phim Hàn Quốc.

Lúc chiều, nhìn trên news feed của bạn bè, thấy lão bạn tâm giao một thời ngày mai lên báo trực tuyến về phim ảnh.

Bây giờ, ngoài kia trời đang mưa, và trong này đang nghĩ xem thực sự hôm nay mình mong đợi điều gì. Hóa ra, đang đợi hết ngày, về nhà, chờ 22h đến để xem phim Hàn Quốc.

Nhớ vài năm trước, nhất là khoảng chục năm trước, mọi người hè nhau dè bỉu những người nghiện phim Hàn Quốc. Cái nhận xét phổ biến mà ai cũng nghĩ nó là của mình, và thường nói ra rập khuôn một cách sắc xảo đại ý phim Hàn Quốc chỉ toàn máu trắng, tình tay ba, thù này phải trả đến muôn đời…, phim nào cũng như phim nào, rồi nhân vật chính sau khi toại nguyện với tình yêu thì lại phải chết vì ung thu máu. Rồi bẵng đi một thời gian, hình như người Hàn Quốc rất để tâm đến các comment của khán giả Việt Nam, nên phim bắt đầu ít máu trắng hơn, thỉnh thoảng vẫn có oán thù, tình vẫn tay ba, thậm chí tay tư… Không biết những người mười năm trước sắc xảo rập khuôn chỉ trích phim Hàn Quốc giờ thế nào. Mình thì mỗi ngày một nghiện phim Hàn Quốc.

Chả phải vì mình không xem mấy thứ như “Black Swan” hay “127 Hours” hay “Triệu phú ổ chuột” hay kể cả là “Fawlty Towers”. Nhưng mà mình cứ thích phim Hàn Quốc. Hôm qua. Trong lúc chuẩn bị ra khỏi toilet. Mình đã nghĩ. Và muốn tạm liệt kê ra mấy lý do vì sao mình lại nghiện phim Hàn Quốc.

Vì mình đã tốt nghiệp phổ thông trung học được 16 năm, kể từ đó đến giờ hầu như không có ai răn dạy đạo lý cho mình. Trường đại học là nơi người ta ít dạy đạo lý nhất. 4 năm học đại học, ngoài trốn tiết, chơi phỏm, và ngồi lì ở thư viện quốc gia, mình không thấy ai túm lấy mình để dạy đạo lý. Và cũng chả có ai tâm sự với mình về mấy thứ giá trị nhân văn hay những cái mà người thầy thời phổ thông của mình rất dày công gieo trồng vào trong não mình kiểu “cái đẹp cứu chuộc thế giới”.

Vì mình đã thoát ly khỏi gia đình từ lâu, và trong con mắt của cha mẹ thì việc dạy dỗ mình giờ là thừa rồi, chỗ các cụ đã dạy mình đủ dùng cho cả đời con mình rồi, nên lâu lắm các cụ cũng không tâm sự gì với mình về mấy cái lẽ ở đời hay mấy cái đạo ở đời.

Vì mình bây giờ đã có con, con mình ở cái tuổi đặt ra những câu hỏi kiểu “vì sao yêu nhau lại phải hôn nhau?” Hay đưa ra những tuyên ngôn kiểu: “Không có mẹ nào tuyệt bằng mẹ này của con cả!” Hay: “Mẹ ơi có phải vô cùng vô tận cộng với vô cùng vô tận vẫn là vô cùng vô tận không? Con yêu mẹ bằng vô cùng vô tận…”

Vì mấy cái vì đó, mình đâm ra nghiện phim Hàn Quốc.

Vì hóa ra, xung quanh mình bây giờ, những thứ có thể giúp cho mình thấy các giá trị của một thứ tình cảm mong manh, yếu đuối, của những cái nhân văn, những cái sến, những cái lãng mạn, những giá trị mà trước đây mình được dạy, được nhồi nhét, được học, được tâm sự… mình chỉ có thể tìm được trong phim Hàn Quốc. 16 năm nay mình bị bỏ mặc. Vì mình đã thành người trưởng thành. Mà người trưởng thành thì không ai còn buồn dạy dỗ nữa. Người trưởng thành thì phải tự dạy dỗ mình, và dạy dỗ người khác. Nhưng một người trưởng thành thì đầy dãy bận tâm, đầy dãy toan tính, đầy dãy lo lắng hơn là việc dạy dỗ mình.

Xem phim Hàn Quốc, bỗng dưng thấy được thỏa cơn khát được dạy dỗ, được nuôi cấy hàng ngày những cảm xúc tốt, những cảm xúc sến, những thứ mỗi ngày đang lần mòn hao kiệt trong từng tế bào của mình. Nên bỗng dưng vui mừng vì nhận ra bản thân đang nghiện phim Hàn Quốc.

Những người rập khuôn sắc xảo, sẽ bảo phim Hàn Quốc nhân vật hay ỡm ờ rối rắm, mâu thuẫn nảy sinh vì mấy cái đứa cứ hay ỡm ờ, rồi tình tiết thì hay đi quá… Đôi lúc cố tình bươi móc thì mình cũng thấy đại loại những thứ như thế.

Còn hàng ngày mỗi tối, mình vẫn dán mắt vào màn hình, để xem cái cách mà một người mẹ quan tâm đến con, đến cái lễ phép của người nhỏ với người lớn, đến thứ tình cảm gia đình ấm áp mà hầu như phim nào cũng có, đến những cử chỉ đạo đức, khiêm nhường hay những thứ vừa hài hước vừa chân thực… Nhạt thế thôi, nhưng mình thích.

Dạo này mình xem nhiều đến nỗi cũng thuộc cách người Hàn Quốc xây dựng nhân vật và tình huống, cũng thuộc cách ví von, đối thoại, cũng thuộc cách thể hiện cảm xúc… Xem sang phim sau lại quên quên phim trước. Nhưng hễ có là lại xem. Một ngày bình thường như hôm nay, lại muốn về nhà tắm táp tinh tươm, thảnh thơi nằm trên sô pha, chờ đến 22h để lại khóc khóc cười cười với mấy anh mấy cô Ưn Chê, Kang Chê…

Ngày mai bạn mình chém gió về phim ảnh. Bạn mình tinh nói chuyện Trần Anh Hùng, Trương Nghệ Mưu… Mình thì đang trong cơn phim Hàn Quốc. Tưởng tượng từ mai không có phim Hàn Quốc để xem nữa. Buồn phết nhỉ.

143 Tôi nghiện phim Hàn QuốcPhim “Bốn chàng quý tử”

Yahoo! và các dự định sản phẩm quảng cáo mới năm 2011

Tại Hội nghị thượng đỉnh Yahoo! Marketing 2011 khu vực Châu Á Thái Bình Dương hồi đầu tháng 4 vừa qua, Yahoo! đã giới thiệu một số sản phẩm quảng cáo mới trên thị trường toàn cầu cũng như đưa ra các thống kê liên quan đến thị trường Việt Nam và các sản phẩm ra mắt tại thị trường Việt Nam trong năm nay.

Về các sản phẩm quảng cáo, Yahoo! giới thiệu 5 sản phẩm mới gồm: Sản phẩm quản lý trang đăng ký tài khoản Email, Magazine Ad, Bài viết quảng cáo, sản phẩm CBE (Custom Brand Experience) và Banner mở rộng và cố định trên di động.

Yahoo cho rằng điểm vượt trội của sản phẩm quản lý trang đăng ký tài khoản Email so với các banner hiển thị thông thường là ở chỗ nó cho phép các nhà quảng cáo có 2 lựa chọn: hoặc là dùng phiên bản tĩnh để dẫn người dùng tới trang cần quảng cáo thông qua click, hoặc dùng phiên bản tương tác khi người dùng click vào sẽ hiển thị một hình ảnh hoặc flash kích cỡ 450×450.

Anh 2 Yahoo! và các dự định sản phẩm quảng cáo mới năm 2011

Hội nghị thượng đỉnh Yahoo! Marketing 2011 khu vực Châu Á Thái Bình Dương tại Hà Nội

Sản phẩm Magazine Ad là dạng một mẫu quảng cáo bắt đầu bằng một banner kích thước 954×60, sau đó tự động mở rộng thành một panel lớn hơn với kích thước 970×640, trước khi chuyển thành một cuốn tạp chí trực tuyến. Nội dung sẽ được tải về trong lúc người dùng đang xem mẫu quảng cáo.

Bài viết quảng cáo là một bài viết dưới dạng một bài báo khách quan được tích hợp nội dung quảng cáo vào mạng lưới của Yahoo!.  Nội dung này được tích hợp vào một bản chuẩn thiết kế theo phong cách của Yahoo!. Các nhà quảng cáo cũng có thể đưa một bài viết quảng cáo từ báo in lên mạng bằng cách sử dụng nội dung bài viết kết hợp với video quay sự kiện, cung cấp thêm thông tin liên quan hoặc thu thập phản hồi từ người dùng thông qua mục “bình luận”. Bài viết quảng cáo có thể  được chia sẻ trên các trang mạng xã hội phổ biến như Facebook và Twitter.

Sản phẩm CBE (Custom Brand Experience) là một sản phẩm cho phép các doanh nghiệp sử dụng các ứng dụng có sẵn của Yahoo để triển khai các chiến dịch online hoặc quảng bá website và nội dung của mình. Yahoo! cho rằng họ đã thành công với sản phẩm này tại Châu Á với hai khách hàng là Style Factor ở Indonesia và Real Beauty ở Ấn Độ. Hiện nay Yahoo! chưa cung cấp thêm thông tin về sản phẩm này cũng như mức độ thành công tại các khách hàng đã ứng dụng, tuy nhiên rất khó để nói sớm về thành công của một sản phẩm tham vọng như thế này.

Banner mở rộng và cố định trên iPhone.  Những mẫu quảng cáo của Yahoo! mở rộng có thể hiện thị đến 2 phần 3 màn hình iPhone. Banner cố định vẫn giữ nguyên 1 vị trí trên màn hình trong khi người dùng đang theo dõi nội dung trên thiết bị của họ.

Ngoài các sản phẩm quảng cáo nói trên, cũng tại Hội nghị thượng đỉnh lần này, Yahoo! ra mắt dịch vụ Livestand, một dạng dịch vụ cập nhật tin dành cho tablets và di động. Nội dung chính của Livestand được cập nhật từ các nguồn có sẵn của Yahoo! như  các trang thể thao (Sports), trang tin tức (News), trang thông tin tài chính (Finance), trang lưu trữ ảnh (Flickr), trang thông tin người nổi tiếng OMG! và mạng xã hội Yahoo! Contributor Network. Người dùng Livestand có thể cá nhân hóa nội dung mình muốn theo dõi. Cho ra đời dịch vụ này, Yahoo! nhắm tới 2 đối tượng chính là các nhà xuất bản tin (publishers) và các nhà quảng cáo (advertisers). Bạn có thể tìm hiểu thêm những gì mà Yahoo! cho rằng có lợi cho 2 đối tượng này tại http://www.livestand.com/. Yahoo! dự kiến sẽ tích hợp sẵn dịch vụ này trên các tablets chạy trên nền iOS và Android từ nửa đầu năm 2011.

Trong bài thuyết trình tại Họp báo trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh, bà Rose Tsou, người chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động của Yahoo! tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương cung cấp các thông tin về ngành và các thống kê và chiến lược sản phẩm tại thị trường Việt Nam dưới đây:

Quý 4 năm 2010 vừa qua đánh dấu sự tiếm ngôi mạnh mẽ trên toàn cầu về số lượng của điện thoại thông minh và máy tính bảng so với máy tính để bàn cũng như máy tính xách tay. Xu hướng này đang lan rộng, và theo các chuyên gia dự đoán, 2015 là thời điểm điện thoại thông minh và máy tính bảng sẽ bán chạy gấp đôi so với các máy tính truyền thống. Cùng với sự thay đổi về các thiết bị đầu cuối, thói quen của người tiêu dùng cũng đang biến đổi qua các khu vực địa lý, dự kiến chúng ta sẽ chứng kiến nhiều thói quen trực tuyến phong phú.

Theo số liệu IDC: tới năm 2014 sẽ có 1,2 tỉ người trên toàn cầu sẽ truy cập Internet từ thiết bị di động (trong đó 660 triệu người ở khu vực Châu Á).  Tại các thị trường phát triển như Mỹ và Châu Âu, mật độ sử dụng Internet đang dần chậm lại và bão hòa. Cũng theo số liệu IDC: Số người dùng Internet sẽ tăng thêm 400 triệu trong ba năm tới (từ 2011 đến 2014), trong đó Châu Á chiếm 70%. Đến năm 2014, Châu Á sẽ chạm mốc 1,3 tỉ người dùng, chiếm 53% số người dùng toàn cầu.

Anh 5 Yahoo! và các dự định sản phẩm quảng cáo mới năm 2011

Bà Rose Tsou, người chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động của Yahoo! tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh Yahoo! Marketing 2011 khu vực Châu Á Thái Bình Dương

Theo các nghiên cứu của Forrester Research, tới năm 2014, số người sử dụng Internet sẽ tăng trưởng 42%, lên tới 2,2 tỉ người.  Tới năm 2014, 87% số người sử dụng Internet sẽ nằm ngoài nước Mĩ và đa phần trong số này sẽ từ Châu Á –Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.

Theo số liệu của IDC,Việt Nam mới chỉ có 23% dân số sử dụng Internet. Hơn 70% người dùng Việt Nam truy cập Internet từ nhà riêng (Nguồn Yahoo! – TNS Net Index 2010). Mười năm sắp tới sẽ chứng kiến 17 triệu người dùng trẻ gia nhập thị trường. Phân khúc người dùng dưới 20 tuổi sẽ chiếm 35% số người sử dụng (Nguồn: VN GSO 2009, TNS) và nhóm công chúng này chủ yếu sẽ sử dụng các công cụ truyền thông xã hội và trò chơi trực tuyến.

Hoạt động tại Việt Nam từ năm 2006, Yahoo! hiện đạt được: 6 triệu người dùng mỗi tháng, tiếp cận 88% người dùng Internet, dẫn đầu với các sản phẩm Mail, Chat (Messenger), Hỏi Đáp (Anwer) và 360 plus, 12 hợp đồng đối tác về nội dung, là đối tác về dịch vụ di động của Viettel và Q Mobile.

Global News vừa được ra mắt tại Việt Nam ngày 10 tháng 3 vừa qua – là sản phẩm truyền thông đầu tiên chạy trên nền quốc tế. Yahoo! dự kiến cho tới hết quý II, sẽ giới thiệu thêm nhiều sản phẩm chạy trên nền quốc tế tại Việt Nam. Đến cuối quý II,Yahoo! sẽ ra mắt OMG, nguồn tin về thế giới của các ngôi sao thời trang, điện ảnh, và làm đẹp. Vào quý III, Yahoo! sẽ ra mắt Movies, cả hai sản phẩm này đều sẽ tận dụng nguồn lực toàn cầu của Yahoo!.

Hoa chụp hoa

IMG 2737 Hoa chụp hoa

IMG 2730 Hoa chụp hoa

IMG 2708 Hoa chụp hoa

IMG 0958 Hoa chụp hoa

IMG 0960 Hoa chụp hoa

IMG 0978 Hoa chụp hoa

IMG 1302 Hoa chụp hoa

IMG 2616 Hoa chụp hoa

IMG 1253 Hoa chụp hoaIMG 1265 Hoa chụp hoa

Lòng tôi hẹp khi lượng đời quá rộng…

Hai tuần trước, hội học sinh cấp ba của tôi tụ họp, nhờ một cái Fan Page của Facebook. Trong số những người tới dự, già hơn tôi chỉ có một, còn trẻ hơn tôi thì quá nhiều. Sau rất nhiều giờ blah blah về những chuyện trường xưa lớp cũ và những dự định cỏn con, chúng tôi ra quán nhậu. Mấy giờ ngồi nói cho người khác nghe trong mù mịt khói thuốc không đem lại được gì nhiều cho tôi bằng mấy giờ ngồi nghe người khác nói trong nồng nàn men bia.

Tại bàn nhậu hôm ấy, tôi may mắn được ngồi gần một em dưới tôi một khóa, cũng là dân chuyên văn, giờ đang là luật sư. Bia vào thì lời ra. Nhưng lần này không phải là lời của tôi, mà những gì em gái nọ tình cờ kể, khiến tôi có cơ hội để nhìn lại mình. Ra trường sau tôi một năm, là luật sư của Đoàn LS Hà Nội, có một con gái 8 tuổi và hai đứa sinh đôi 3 tuổi, một trai một gái, em tự nhận là mình có số được “nhờ chồng”, vì mặc dù một nách ba con nhưng suốt ngày trên từng cây số, ít thời gian ở nhà, nhưng chồng rất thông cảm và ủng hộ. Tôi rất tò mò về những việc cứ khiến em phải “trên từng cây số”, chắc là phải làm ăn lớn lắm. Hóa ra em mải mê đi làm từ thiện. Tôi hỏi: Em đi làm cho tổ chức nào hay có người cho em tiền để làm? Em bảo: Em thích thì làm thôi chị ạ, chẳng có ai cho tiền để làm cả, mình thích thì mình làm thôi, càng làm càng say càng muốn đi nhiều. Em kể một dự án từ thiện mà ngay ngày hôm sau em lên đường là một dự án giúp bà con dân tộc nuôi dê ở Huyện Na Rì, Bắc Cạn (nếu tôi nhớ không nhầm). Em kể: Bọn em lên cho bà con tiền mua dê nái về nuôi, mỗi một lứa dê nái đẻ ra, bọn em lấy lại ba con, đem cho hộ khác. Em lên đấy liên tục để kiểm tra chuồng dê của bà con và đem dê đến cho các hộ mới. Bọn em toàn tự đi, thỉnh thoảng đi nhờ được xe, không thì đi xe khách.

Tôi nghe mà không tin vào tai mình lắm, bằng một quán tính ích kỷ và nghi ngờ một cách thâm căn cố đế, tôi mặc nhiên không tin vào tai mình. Nhưng bữa bia đó kéo dài đến 11 giờ đêm. Em gái đó ngồi với chúng tôi đến gần 10h thì về, vì em bảo: đã đến giờ em phải về làm bà mẹ nhân dân. Suốt trong thời gian đó, tôi đã củng cố và gỡ bỏ mối nghi ngờ của mình bằng rất nhiều câu hỏi. Và càng hỏi càng thấy khó thở ở ngực, với một cảm giác mà trước đây chưa bao giờ có. Một cảm giác coi thường bản thân.

Cảm giác hiếm hoi đó không tồn tại lâu, trong cái con người còn quá lạ lẫm với những chuyện như tôi vừa kể, thì một tuần sau đó, cảm giác này lại trỗi dậy, khi tôi tới đón chị bạn thân của tôi vào một buổi tối khi chị tan sở. Bạn của tôi làm việc trong một tập đoàn lớn nhất nhì nước mình, việc của chị toàn dính đến tiền nong. Chắc có nói bạn cũng không thể hình dung hết một ngày bao nhiêu tiền chảy ra chảy vào cái phòng làm việc của chị. Mới đây, chị thôi không ngồi như một con chuột trong cái chĩnh vàng đó nữa, mà chuyển qua bộ phận khác của tập đoàn. Cũng là một bộ phận tiêu tiền, nhưng lần này việc tiêu tiền đem đến cho chị một không khí khác. Mấy tháng qua tôi không gặp chị, nên lúc gặp chị thấy rõ chị phải sút đi đến 5 – 6 cân thịt.

Đưa chị về nhà lúc 6h, nhưng tôi đã ngồi tới 8h giờ để nghe chỉ kể về công việc. Mỗi năm, chị được giao cho một cơ số tỷ đồng để giúp đỡ người nghèo và người tàn tật. Tôi nghĩ chị là người quá phù hợp cho vị trí công việc này. Vì chị là người công minh hiếm thấy. Hồi còn làm cùng với chị ở một dự án nhà nước, tôi đã chứng kiến nhiều lần chị gạt phăng những khoản chi ngoài luồng của các sếp như thế nào khi chị làm phòng tài chính. Tôi không biết sau này cái gì sẽ mua chuộc được chị, nhưng chắc chắn đó không phải là tiền.

Chị kể, suốt tháng vừa rồi chị lặn lội mấy tỉnh miền Trung, đến những nơi có thiên tai tàn phá để kiểm định hồ sơ của các hộ. Chị bảo có những lúc phát khóc. Thân gái dặm trường, ngồi sau xe máy của cán bộ địa phương, chở đi mấy chục cây số đất đỏ bụi mù, leo lên những nơi heo hút để xem tận mắt. Chị giơ tay ra dấu: Em đừng cho chồng chị biết, anh ấy mà biết vợ cực khổ như thế khéo không cho chị làm đâu.

Tôi hỏi: chị có nhất thiết phải làm việc này không? Chị bảo: chị chưa biết được, nhưng chị làm việc này được 6 tháng rồi, và chị vẫn đang mải mê với nó. Chị kể những lần chị đi vào viện huyết học để chụp ảnh các cháu bé phải phẫu thuật. Có những cháu khối u lớn hơn cả người, chị chụp ảnh xong thì gần như xỉu đi vì sợ quá. Tôi bảo chị dũng cảm quá, vì tôi biết chắc chắn là mình không làm được việc đó, hiếm khi tôi nhìn lâu được một người khuyết tật hay bệnh tật. Chị bảo quy trình ở chỗ chị là phải đi thẩm định, mang ảnh về và trình bày hoàn cảnh của đối tượng cứu trợ để các “sếp” duyệt. Nhưng không phải lúc nào cũng được duyệt ngay, không phải lúc nào người ta cũng tin ngay những bức ảnh chị chụp. Ông xã tôi ngồi cạnh tư vấn cho chị là lần sau mang máy quay đi thì hết nghi ngờ.

Chị có vẻ không để ý lắm mà mải mê nói về một cháu bé mắc chứng bệnh tai quái nào đó mà phải chịu mang trên người một khối u rất lớn, mỗi năm phải phẫu thuật một lần. Cháu bé rất bi quan về hoàn cảnh của mình, vì lo rằng chỉ được hỗ trợ phẫu thuật một lần thôi, còn các năm tiếp theo thì sẽ như thế nào. Chị quả quyết: cháu nhóm máu gì? AB cô ạ! Thế thì thế này nhé, mỗi năm cuộc phẫu thuật của cháu sẽ mất 8 triệu, cô cũng nhóm máu AB, cháu cứ yên tâm đến kỳ lên HN phẫu thuật đi, cô sẽ cho tiền để cháu mổ, còn máu của cháu cô sẽ cho.

Con mắt của tôi quá bé, nên có trợn lên thì người khác cũng khó mà phát hiện được, nhưng nếu chị để ý lúc đấy, chắc sẽ thấy nó sắp nhảy ra ngoài rồi. Chị không quá giàu. Và con số 8 triệu cũng không quá nhiều. Nhưng tôi thấy việc làm của chị quá lớn!

Sau hôm ở nhà chị về, tinh thần coi thường bản thân của tôi lại được củng cố thêm một lần nữa.

Hàng ngày tôi vẫn nghe trên tivi ra rả những chương trình từ thiện. Tôi đã từng tham gia rất nhiều chương trình làm từ thiện theo kiểu phong trào. Công ty của tôi cũng từng đóng góp miễn phí website cho các dự án từ thiện, cũng tham gia các chương trình nọ kia, nhưng tóm lại là phong trào. Chưa có lúc nào tôi tham gia vào từ thiện một cách thực tâm và tận tâm. Hàng ngày cũng nhìn thấy hoa hậu, người mẫu, doanh nhân làm từ thiện, nhiều lúc có cảm giác nhà nhà làm từ thiện, người người làm từ thiện, bỗng dưng mà sinh ra một phản ứng có điều kiện với hai chữ từ thiện.

Nhưng mấy tuần vừa qua làm tôi biến đổi nhiều quá. Tôi đang bị rơi vào tình cảnh tự chất vấn mình.

Tôi thế nào ư?

Tháng nào cũng ngập ngụa trong tiền. Không phải vì tôi quá nhiều tiền. Mà nỗi lo thường trực là tiền. Lúc không có tiền thì lo kiếm tiền. Có tiền thì lo tiêu tiền. Lúc nào cũng bị ám ảnh vật chất. Ô tô. Nhà cửa. Giày dép. Túi xách. Trang sức. Mỹ phẩm. Quán sá. Du lịch. Và thường trực vẫn thấy mình không đến nỗi bất hạnh nhưng cũng không sung sướng. Lúc nào cũng bị tiền nong và phần lớn những chuyện liên quan đến tiền nong cào cấu cắn xé.

Đã vậy, như là một công thức, tôi cũng hay chẹp miệng hay thở dài trước những người ngửa tay xin ăn, hay trước những người nghèo lâm trọng bệnh. Tôi cũng biết than thở khi nhìn thấy những người nghèo úp màn nằm chơ vơ phía sau tòa nhà dành cho bệnh nhân nghèo trong viện Bạch Mai. Tôi cũng biết ái ngại khi nhìn những đứa trẻ người dân tộc cứ chiều xuống lại ngồi ở bậc thềm xuống chợ Sapa khóc khản tiếng không biết vì đói hay vì nhớ mẹ. Tôi biết tất cả những điều ấy, như là một thứ công thức, buộc tôi những lúc đó chẹp miệng, thở dài.

Nhưng, tôi hiếm thấy mình thò tay vào túi móc ra 5 nghìn, 10 nghìn lẻ cho một đứa trẻ lang thang. Tôi hiếm khi bỏ vài đồng lẻ để mua một gói tăm cho người tàn tật, hay cho một bà cụ chưa đến nỗi già lắm vài đồng. Vì cũng là một thứ công thức, tôi hay nghi ngờ: không biết người kia có tàn tật thật không, bà cụ kia trông khỏe thế sao không làm gì mà ăn mà lại đi ăn xin. Tôi quên mất một điều là tự tôi phải làm việc tốt đã, còn việc giả vờ hay thành thật là việc của người khác, nhưng cảm giác không muốn mắc bẫy thiên hạ, không muốn bị lừa luôn lớn hơn nhiều mong muốn được tốt với ai đó.

Hóa ra, lâu nay tôi vốn thích cho những người lái taxi tiền thừa hơn là cho những đứa trẻ lang thang. Những người lái taxi có người nhận được tiền thì rối rít cảm ơn, nhưng nhiều người thì cố tìm ỉm đi chờ mình xuống xe. Nhưng tôi hình như không thấy tiếc những đồng lẻ, và nhiều khi không lẻ lắm đó, cho những người thừa sức khỏe để lao động và thường là mưa không đến đầu đó. Nhưng tôi lại bước cho nhanh qua hay gạt đi những bàn tay ngửa ra xin khi thấy tôi ngang qua trước mặt. Tôi làm ngơ trước những gương mặt lấm lem, những đứa bé hơn con tôi chỉ vài tuổi hay những cụ già bằng tuổi bố mẹ tôi. Tôi tiếc với họ một chút thời gian và thường là không có mong muốn hay thôi thúc rút ví ra cho họ vài đồng.

Đôi khi trong đời, chỉ là vì ta gấp gáp quá, ta mải miết quá để đi cho nhanh mà quên không chậm lại vài giây để tự tìm thấy cái vốn có, cái thiên hướng ở chính mình, để làm được những điều mà rất nhiều tiền, rất nhiều phù phiếm, rất nhiều cố gắng không mua lại nổi những thanh thản và rất nhiều thương mến.

Cả bốn người cùng khóc

(hay Nhật ký Vàng Anh không có hồi kết)

Trước tiên mình muốn xin lỗi bốn người chuẩn bị khóc dưới đây, vì không có ý cố tình mang chuyện riêng của người khác ra làm câu chuyện hầu thiên hạ, mà chỉ mong chia sẻ một mối đồng cảm.

Sáng nay tình cờ ba người nhà mình gồm hai thanh niên ngoài ba mươi tuổi và một nhi đồng thối tai ngồi ăn sáng tại một quán cà phê mang phong vị Sài Gòn tại phố X. Vì thói quen ngủ nướng mà chúng tôi không còn lấy một chỗ để ké chân bên trong cái quán dễ chịu hiếm hoi tại cái khu đang phát triển rất nóng này. Cũng vì thế mà run rủi cho chúng tôi ngồi vào ba chiếc ghế cuối cùng ngoài hiên, bên cạnh bốn người rất đặc biệt của buổi sáng.

Họ là hai cô bé 14 tuổi và hai bà mẹ chừng 40 tuổi. Tôi biết chắc tuổi của hai cô bé vì mẹ của một trong hai em có lúc đã nói “L, con đã 14 tuổi rồi…” Mặc dù không cố tình nghe lỏm chuyện, nhưng hai bà mẹ dường như cũng không có ý cố giấu không cho người ngồi gần nghe chuyện, hay thực ra là họ chẳng có tâm trí mà nghĩ tới việc người khác có nghe hay không.

Họ nói chuyện rất mạch lạc và chân thành. Đặc biệt là bà mẹ trông trẻ hơn. Thật khó tin, tôi vẫn chưa dám tin là ở Việt Nam mình có những phụ huynh đáng ngưỡng mộ như hai bà mẹ này. Họ đang ngồi trong một quán cà phê, đối diện với hai đứa con của mình, và giúp chúng vượt qua nỗi sợ, một lỗi lầm gì đó rất kinh khủng mà chúng mắc phải. Họ không cáu gắt, họ không cao giọng, họ cứ từ từ nói, từ từ thể hiện họ quan tâm thực sự tới hai cô bé như thế nào.

Nhưng chuyện cũng sẽ không đến mức khiến tôi phải ngồi ghi lại như thế này, nếu như người phụ nữ trẻ hơn không nói: Con ạ, ai cũng mắc phải sai lầm, vấn đề là mình phải biết nhìn nhận nó và vượt qua, mẹ và mẹ của con ngồi đây đều có thừa vị tha để cùng giúp con đứng dậy. Con hãy nhìn chị Hoàng Thùy Linh, chị ấy phạm phải một sai lầm khủng khiếp, mẹ không ủng hộ việc chị ấy làm, nhưng chị ấy thậm chí đã phải lên truyền hình và xin lỗi cả nước, nhưng rồi chị ấy thực sự đã vượt qua được sai lầm của mình và làm lại từ đầu. Lỗi lầm của con chưa đến mức ấy, nhưng con phải bình tĩnh và hai mẹ ở đây là để giúp con vượt qua.

Tôi không nghĩ là chuyện của hai cô bé này liên quan gì đó đến việc có thai, mặc dù hai người mẹ liên tục nói đến chuyện đưa cô bé đi khám bác sỹ. Cô bé ban đầu ngồi im lặng, rồi khóc nức nở, và nắm khư khư cái điện thoại trước mặt chờ tin nhắn của bố. Và khi bố cô bé gọi điện tới thì cô bé òa lên nức nở và tha thiết xin bố về nhà. Chuyện của họ có vẻ phức tạp hơn tôi có thể tưởng tượng. Và tôi thực sự không muốn tọc mạch thêm về họ. Chỉ biết đến lúc chúng tôi đứng dậy, người mẹ trẻ đã chuyển từ ghế cạnh tôi sang ngồi gần như ôm cô bé đang nức nở vào lòng, và cả bốn người họ cùng khóc.

Tôi cứ nghĩ mãi về chuyện Hoàng Thùy Linh mà chị ấy nói. Đã có biết bao người phản đối cái buổi lên sóng của Hoàng Thùy Linh, biết bao người ồn ào về lối sống của cô ấy sau này với những tin đồn như cô ấy đang cặp bồ với đại gia… Nhưng có lẽ tôi và một số ít người như người phụ nữ sáng nay, lại đồng cảm được với cái buổi mà cả nước cho là phản cảm ấy. Nếu tôi là Đỗ Thanh Hải, là Khải Hưng, có lẽ tôi cũng sẽ cho lên sóng buổi truyền hình đó và chấp nhận bị phản đối, vì thực tế, nó chỉ là điều nhỏ nhất mà một người lớn có thể làm để giúp một đứa trẻ. Và ít ra, hôm nay nó lại tiếp tục giúp được hai đứa trẻ này. Một sự việc nếu anh tiếp nhận nó một cách tiêu cực thì có thể nó đáng bị đem ra kiểm điểm, nhưng nếu anh nhìn nó một cách vị tha hơn, có thể nó lại là một liều thuốc tốt.

Dù bốn người sáng nay là ai, tôi cầu mong thực sự họ sẽ tìm được hướng giải quyết, và lúc nào họ cũng ở bên nhau để cùng vượt qua những ổ gà, ổ voi trong đời.