Thầy

Mỗi năm đến 20/11, cảm giác của mình cực kỳ lẫn lộn.

Những người từng dạy mình học có rất nhiều, nhưng những người làm mình gai gai ở trong tim vào ngày này, mình cứ phải đắn đo nghĩ mãi. Hôm nay thử ngồi viết ra xem có đỡ lẫn lộn chút nào không.

Lớp 1, cô giáo đầu tiên là một người chị họ. Lúc đó mình mới 5 tuổi, chưa đủ tuổi đi học, nhưng ngày nào sau giấc ngủ trưa mở mắt ra không có mẹ, là mình đứng bên hiên nhà gào tướng lên, độc mỗi câu “Mè ơi!”. Bà nội của mình sau một số ngày dài không làm thế nào để dỗ mình nín khóc, bắt đầu điên tiết, và nói: “Mè mè chép chép gì, nó đi dạy rồi!”. Sau đó bà đưa ra sắc lệnh với mẹ: “Từ ngày mai, mẹ mày đi dạy thì mang nó đi cùng nhé, ở nhà u không dỗ được đâu.” Phải mở ngoặc bà nội là người mình yêu nhất quả đất và chắc cũng yêu mình nhất quả đất, nhưng bà phải nói như thế nghĩa là nó ở mức độ trầm trọng như thế nào.

Thế là hàng ngày mỗi khi mẹ đi dạy, mình lại lẽo đẽo đi theo. Trường của mẹ ở thoai thoải trên đồi, đến trường phải đi qua một quãng đê rất dài, gió Bấc cứ vùn vụt thổi. Đại gia đình mình quê gốc ở Hà Đông, nay là khu Văn Quán, nhưng cả làng đi theo cụ Bạch Thái Bưởi vào Thanh Hoá, các cụ nhà mình vào mộ phu, tuyển người khai thác gỗ cho cụ Bưởi làm tà vẹt đường sắt Nam Bắc. Mãi sau này cả làng mới chuyển lại về quê. Cái trường cấp 1 đầu tiên mình học chính là ở nơi ấy, trường toàn con cháu trong làng, toàn nói giọng Bắc, chả mấy người nói tiếng địa phương.

Mẹ vào lớp, mình bị dí vào ngồi trong một lớp 1 của bà chị họ. Mẹ bảo cho ngồi nhờ thôi, không cần dạy dỗ gì đâu. Ngày nào cũng thế, mình ngồi ké ở cái lớp ấy, chả sách vở, phấn bảng gì. Cuối năm, mẹ chuẩn bị hồ sơ cho mình đi học chính thức, thì bà chị họ bảo: “Thím ơi, không phải cho em học lại đâu, nó học giỏi nhất lớp cháu đấy.” Thế là mình qua lớp 1 nhẹ hều, và chả có cảm giác gì về cái gọi là “cô giáo”.

Lớp 2 mình ở nhà, vì nhà chuyển về thành phố, mẹ thấy đi học bất tiện hơn ở nhà, nên cho mình ở nhà. Cả năm lớp 2, mình đi bắt chuồn chuồn, cởi trần chơi ô ăn quan với bọn con trai trong xóm. Mùa hè, mẹ nghỉ hè về nhà, thấy một đám trẻ con chạy lốc nhốc đầy sân, nhìn mãi không nhận ra đứa nào là con mình. Mình đứng lẫn trong đám trẻ con đen nhẻm, đánh mỗi cái quần đùi hoa, cởi trần, tóc đỏ hoe vì cháy nắng. Mẹ ngồi bệt xuống hè khóc, bắt đền bố để mình trông ra nông nỗi đấy. Và tất nhiên trong suốt năm đó mình cũng không hiểu khái niệm thế nào là “cô giáo”.

Từ đó cho đến hết lớp 4, khái niệm cô giáo càng hết sức nhạt nhoà, vì chỉ nhớ mỗi cô giáo mẹ thôi. Hè nào mẹ cũng chỉ mất 1 tháng để dạy mình học xong sạch các kiểu sách giáo khoa của năm đấy, thành ra đi học toàn ngồi ngáp vặt. Bây giờ đang ngồi cố hình dung ra các cô giáo ở cái trường cấp 1 gần nhà nhưng kỳ lạ là không tài nào nhớ nổi một ai.

Lớp 5, tự dưng mình bị nhét đi thi đội tuyển Toán, rồi thi nốt cả đội tuyển Văn. Thế quái nào mà lớp Văn thiếu người, rồi mình bị dí vào lớp Văn. Thế là học chuyên Văn từ đấy. Từ đây mình bắt đầu biết rằng mình có một người thầy.

Thầy già lắm, phải ngoài 50. Dạy trẻ con mà thầy toàn nói những chuyện trên trời, rồi thầy bắt làm thơ, suốt ngày thầy giễu cô chủ nhiệm, mặc dù lớp chuyên Văn nhưng cô chủ nhiệm lại là giáo viên Toán. Ở cái lớp đấy, mình bắt đầu có những đứa bạn mà nó đeo đuổi mình suốt quãng đời đi học còn lại cho tới tận lúc tốt nghiệp đại học. Hạt mầm văn chương bị gieo vào người mình từ đây, mặc dù trước đó thật ra nó đã được gieo từ bà chị gái ruột vô cùng tài hoa của mình, mà tài năng không rơi đúng thời, đúng chỗ, nên bây giờ biến tướng thành tài đếm tiền, tính nhẩm không cần máy, lẻ đến hàng đơn vị kể cả tiền tỷ mà không bao giờ nhầm, trong két tiền kiểu gì cũng giấu một cuốn tiểu thuyết đang viết dở. Vì cái bài văn bà ý làm hộ cho mình bịa chuyện nhặt hoa bưởi về đun nước cho mẹ gội đầu mà mình bị xô sấp vào đội tuyển Văn.

Lại nói về thầy mình, người thầy đúng nghĩa đầu tiên của mình, tài hoa và tính cách ngất ngưởng, mình bắt đầu bị nhiễm cái ngất ngưởng từ đấy, còn cái tài hoa thì chả hưởng được mấy. Hồi này mình cũng có thêm vài người nữa dạy dỗ, nhưng hình như mình cũng không nhớ gì hết, ngoài cái tên, kể cả có một giáo viên dạy mình mấy tháng hồi ở tập trung luyện thi đội tuyển quốc gia, tối nào cũng bắt mấy đứa trẻ con bọn mình cầm lông mày giật giật cho dễ ngủ.

Hồi cấp 2 của mình trôi qua ở một trường điểm quốc gia, cũng là chuyên Văn nốt, cô giáo dạy Văn, nhưng chỉn chu, nghiêm khắc, không hợp với mình mấy, và đặc biệt ngoài sách giáo khoa ra thì chẳng khuyến khích mình đọc thêm cái gì, cho nên thời cấp 2 trôi qua với nhiều kỷ niệm nghĩ đến rất khó chịu, mặc dù cô chẳng làm gì khiến mình ghét. Năm nào cũng bị quàng vào cổ cái mốc và cái thành tích học sinh giỏi toàn diện, nó làm cho mình cứ tròn vo vo như quả trứng. Năm lớp 8, kỳ I biểu tình bằng cách học sa sút hẳn, bố phát điên. Cuối cùng lại phải tròn vo vo lại theo cái mác giỏi toàn diện cho gia đình và xã hội đỡ hục hặc với mình.

Lớp 9, mặc dù là cấp II, nhưng lại được nhấc bổng lên trường cấp III để học. Ở đây mình gặp người thầy thứ 2 của mình. Trong lần gặp mặt đầu tiên đã bị thầy sỉ nhục, học gì đến hết cấp II rồi mà không biết đến mùi thư viện, từ giờ hàng ngày lên thư viện cắm cổ vào mà đọc cho tôi nhờ nhá. Nói chung mình đọc tiểu thuyết Mùa Tôm của Ấn Độ từ lúc mình học lớp 4, và hàng tỉ tiểu thuyết khác mà bà chị gái giờ thích đếm tiền của mình ăn trộm từ nhà in Ba Đình về, nhưng mà bị thầy sỉ nhục cũng thấy nhục phết. Từ đó cuộc đời bắt đầu gắn với cái thẻ thư viện, như là một vật bất ly thân, và là cái thẻ quý giá nhất cho đến lúc được cầm cái thẻ… tín dụng.

Thầy dạy mình từ lớp 9 đến lớp 12. Bốn năm, bao nhiêu là cái ấm ức tức tưởi. Có lúc mình và một đứa bạn vì câu thầy chửi mà còn nghĩ đến chuyện tự tử. Bố đẻ của mình thì có lúc cáu tiết bảo với mẹ mình: “Tôi là bố nó hay ông Khôi là bố nó!”. Mọi thứ thầy nói ra đều là tôn giáo với mình. Thầy vừa tài hoa, tinh tế, vừa ngang tàng, vừa uyên bác, vừa… cùn. Về sau, trong người mình hội đủ gần hết tính tình của thầy. Cái tư duy ấy, tinh thần ấy, cốt cách ấy, ngấm vào mình trong suốt 4 năm cực kỳ quan trọng ở độ tuổi định hình tinh thần, nhân cách, thiên hướng phát triển của mình.

Cũng bởi vì mức độ ảnh hưởng quá nặng nề (không phải chỉ với mỗi mình đâu, hình như đứa học trò nào của thầy cũng bị ảnh hưởng không ít thì nhiều), và cái tình cảm mà thầy dành cho mình quá lớn, mà 4 năm đại học sau đó của mình cực kỳ nhạt nhẽo. Nhiều lúc mình cảm giác như không hề học đại học. Người thầy lớn nhất thời đại học của mình chính là cái Thư viện Quốc Gia. Còn những người đến giảng đường và nói vào một cái micro cho mình nghe, mình chẳng có tí cảm giác nào về cái gọi là mối quan hệ thầy – trò. Người duy nhất tạo cho mình cảm giác đấy, lại là người dạy mình vô cùng ít, hình như được đâu 1 – 2 buổi, là bố của Đỗ Đức Hoàng (VTV1) bây giờ. Ngày đầu mình nhập trường, mình thuộc khoa Báo, nhưng khoa Sử thiếu người, mình bị bắt cóc sang đấy. Mình tức tưởi chạy về khoa Báo, gặp ngay thầy Chỉnh, mách với thầy. Nếu hôm đó người mình gặp không phải là thầy Chỉnh, chắc cuộc đời mình đã trôi tuột béng sang khoa Sử rồi không biết nó trôi đi đâu về đâu nữa. Thế thôi, coi như 4 năm đại học mình thất học. May mà có tình bạn bè và nhiều cái tình trong 4 năm đó kéo lại, không thì mình cũng quên béng mất cái quãng đời cũng gắn với học hành mang tên sinh viên.

Kể ra thì còn nhiều người dạy cho mình các kiểu các thứ lắm, nhưng quái lạ mỗi khi nhớ lại mình chỉ thấy mình có nhỡn hai người thầy. Thật ra là ba. Người dạy chữ cho mình, không ai khác là mẹ. Mẹ dạy cho mình bảng chữ cái, cộng trừ, và tất cả những thứ cần thiết để mình có thể đủ dùng mà đi học các thứ khác cần đến sách vở sau này. Còn 2 người hình thành con người tinh thần, nhân sinh quan, thế giới quan, các kiểu quan của mình là thầy lớp 5 và thầy dạy 4 năm cấp ba.

Nhưng mà thật bất công, mẹ chưa bao giờ nhận được một bông hoa hay bất kỳ lời chúc nào nhân ngày 20/11 từ mình. Mẹ đầy rãy học sinh, nhà đầy hoa, chắc mẹ chả cần đến mình. Nên suốt ngần đấy năm mình thành một đứa học trò thất lễ.

Thầy lớp 5 của mình, bao năm trôi qua rồi, không còn liên lạc với thầy nữa, không biết giờ thầy còn hay mất. Hôm nay mình già, bắt đầu thấy ân hận vì đã không tìm đến thầy trong ngần ấy năm.

Ngày mai mình dự định rủ mấy đứa bạn học cấp 3, đón thầy của mình đi ăn, đi chơi và chẳng biết dự định có thành không. Già rồi, lớn rồi, nghĩ lại những thứ “tôn giáo” ngày xưa nhìn thấy ở thầy, nhiều lúc cũng buồn cười phết. Buồn cười nhất là ngày xưa thầy bắt mình làm những bài nghị luận khó nuốt, thầy không ưng ý, mình cãi nhiều, thầy bắt làm đi làm lại 5 – 6 lần. Hôm thi quốc gia năm lớp 12, về nhà bảo thầy chọn đề nghị luận, bị mắng cho tơi tả. Thầy sợ làm nghị luận thì không có giải cao. Nhưng may mà cuối cùng không làm thầy thất vọng. Thế mà đến lúc tuột ra khỏi vòng tay của thầy, vác về mấy cuốn tiểu thuyết hiện đại, rồi các kiểu tiểu luận mới về tiểu thuyết cho thầy đọc, thầy kêu nhức đầu, tôi già rồi không tiêu hoá nổi. Hoá ra ngày xưa thầy chỉ doạ ma mình thôi. Hihi…

Bây giờ thầy đã đoàn tụ với gia đình ở Hà Nội rồi. Mỗi năm 20/11 mình không cảm thấy tủi thân và trống tênh như hồi xưa nữa, cái hồi mà cả thiên hạ nô nức đi chúc mừng thầy cô giáo, mình chả có ai mà tìm đến ngoài một cú điện thoại, cứ cảm giác mình như đứa thất học.

Mong gặp thầy ngày mai.

Ở giữa

Ở giữa gió làm sao cho khỏi động
Giữa đêm tối làm sao cho khỏi tối
Giữa muộn phiền làm sao không nông nổi
Giữa buồn đau mấy ai hiểu lòng nhau

Giữa năm tháng làm sao không đo đếm
Giữa bán mua làm sao không toan tính
Giữa cuộc vui làm sao không lả lơi
Giữa tuyệt vọng mấy khi không buông rơi

Giữa tim em làm sao không có tôi
Giữa tim tôi làm sao không có ai
Giữa duyên phận làm sao không ngang trái
Giữa cuộc đời có mấy người được vui

Giữa nhung nhớ làm sao cho nguôi nhớ
Giữa biếc xanh làm sao cho thôi xanh
Giữa vô hạn không đâu là hữu hạn
Giữa bôn ba có mấy lúc an lành

Trời đất vốn vô chung vô thuỷ
Em cũng đến từ vô thuỷ vô chung
Buồn vui ghét yêu trắng đen cũng vậy
Ngồi xuống đây tôi uống chén vô thường

—-

Thứ Năm, ngày 15 tháng 11 năm 2012

Viết trên đường đi từ Láng Hạ đến Thuỵ Khuê.

Đốt lên thành khói

Cái thời đồng tiền bỏ trốn
Thiên hạ nháo nhác đi tìm
Cái thời yêu thương bỏ trốn
Bệnh xã hội là bệnh tim

Cái thời cà phê máy lạnh
Tình yêu cũng máy lạnh luôn
Chẳng may chết cũng máy lạnh
Gió ngoài phố kia sao buồn

Cái thời truyền hình thực tế
Ống kính gắn đầy khắp nơi
Điện thoại, máy ảnh, laptop
Chả thoát được con mắt đời

Cái thời rổn rảng chia sẻ
Riêng tư là thứ lỗi thời
Cái thời thương vay khóc mượn
Từ thiện chẳng qua rỗi hơi

Cái thời không thời nào hết
Nhạt thếch ở dưới vòm trời
Về đi gom điều vô nghĩa
Đốt lên thành khói ngắm chơi

Thứ Hai, ngày 12 tháng 11 năm 2012
Viết cho qua cơn đau đầu.

Song song

Mình như hai con đường rộng thênh không người không xe
Chìm lút giữa cao nguyên chỉ cỏ xanh khô và gió
Lặng lẽ cách xa nhau, lặng lẽ gần nhau
Yên lặng vô cùng mà không nơi gặp gỡ

Những cay đắng, bình yên một thuở
Không dễ gì ngủ quên
Bởi chiều nay anh buồn khổ nhớ em
Như em đã nhớ anh ngày tháng đó

Đáp án đời hoá ra chỉ toàn thương với nhớ
Tin hay không, anh khác với anh rồi
Cho anh, một lần thành thật  em ơi
Được nhận lấy thương yêu ngày xưa ấy
Được nhận lấy những ngọt ngào nồng cháy
Anh đã đánh rơi trong lúc mải kiếm tìm

Hai con đường cay đắng bình yên
Lặng lẽ chạy về cùng trời cuối đất
Lặng lẽ yêu bởi vì không thể mất
Lặng lẽ tìm nhau dù chẳng biết bến bờ.

—-

Chủ nhật, ngày 11 tháng 11 năm 2012
Buổi sáng vừa nói không làm thơ nữa, buổi chiều lại thành ra thế này.

Khi brand không hiểu được đúng nghĩa của 2 chữ "cộng đồng"

Năm ngoái, mình có chạy một loạt campaigns cho một nhãn hàng. Chạy từ đầu năm tới cuối năm, vị chi cũng khoảng 4 cái nhỏ trong một cái concept lớn. Nói chung có rất nhiều cảm xúc, chủ yếu là vui vì tự mình thấy được thành công của mình, hạn chế của mình, học được rất nhiều cái, đặt ra được những mục tiêu cụ thể, gỡ bỏ được những hạn chế cụ thể, và tuyệt vời nhất là phát triển được team của mình một cách tương đối toàn diện để có thể chạy tốt các digital campaign.

Cũng năm ngoái, nhiều người hỏi xin mình các tổng kết, đánh giá inhouse về hiệu quả của các campaign này. Mình có share trực tiếp với một vài đối tác trong ngành, nhưng chưa share final report một cách cụ thể với mọi người. Đánh giá chung, theo nhận định cảm tính của mọi người là bên mình làm khá thành công, nhưng hôm nay mình muốn chia sẻ một thất bại, đứng từ phía người làm và mong muốn chia sẻ để những người thực sự đang quan tâm tới việc làm marketing từ cộng đồng có một cái nhìn critical khi tiếp cận vấn đề này.

Cũng trong năm ngoái, một số bạn đặt ra cho mình câu hỏi: vì sao cũng là campaign do Time Universal thực hiện, và trong đó có một channel được chọn để triển khai là Facebook Page, nhưng một cái thì thành công rực rỡ còn một cái thì có thể coi là thất bại thảm hại? Câu trả lời chính là những gì mình muốn chia sẻ, khi tình cờ ghé qua Page của client này sáng nay (hiện  bên mình không còn take care các chương trình của client này năm nay nữa).

So với con số fan bên mình để lại từ cuối năm ngoái, cho đến ngày hôm nay fan của page này gần như đứng im. Các tương tác trên trang cũng èo uột y như hồi bên mình làm vậy. Có một post đạt tới hơn 10,000 impression, nhưng chi tiết của thông số này khá đáng buồn:

Oganic: hơn 2,000

Viral: gần 2,000

Paid: hơn 9,000

Tỷ lệ talking about this là 8% (hiện nay đang là giai đoạn cao điểm của một campaign đang chạy).

Vì sao lại như vậy? Vì sao cả Time Universal và agency đang chạy chương trình năm nay cho nhãn hàng này đều thất bại như vậy? Câu trả lời nằm ở nhận thức của client đối với việc làm cộng đồng. Mặc dù trong suốt thời gian hơn 1 năm, team của TU đã tìm nhiều cách để educate về cách làm social marketing cho team của client nhưng gần như không có kết quả. Có 2 lý do: (1) client quá mù quáng đối với thương hiệu của chính mình, (2) client không hiểu hai chữ “cộng đồng” có nghĩa gì. Trong trường hợp nhãn hàng này, họ mắc cả 2 lỗi trên.

Client này không cho phép đăng những post “hầu” cộng đồng, mà chỉ nói một chiều về brand, về product, về những thứ liên quan đến brand spirit. Client này tin tưởng mình là một “beloved brand” nên chắc chắn cộng đồng sẽ crazy về những gì mà họ viết ra. Và quan trọng nhất họ không có social media policy nói chung cũng như không có hiểu biết về social media và quan tâm quá nhiều tới từng wall post mà không nhìn trong một tổng thể môi trường và cách vận hành của social networks.

Thất bại liên tiếp của nhãn hàng này đối với FB Page nói riêng và với social marketing nói chung là một bài học đối với những người làm marketing tại các doanh nghiệp, tập đoàn đang thực sự chi ngân sách hàng năm cho digital marketing.

Công thức thật ra rất đơn giản, mình đã chia sẻ rất nhiều lần ở nhiều dịp rồi: khi sử dụng social media trong marketing, bạn phải biết cách nói chuyện, bạn chỉ là một trong số những người ngồi xuống bàn và nói về câu chuyện thương hiệu của bạn thôi. Còn nếu bạn muốn là host của chiếc bàn đó, hãy tỏ ra là một chủ nhà hiếu khách, luôn khiến khách khứa cảm giác như họ đang ở chính ngôi nhà của mình. Chừng nào bạn muốn áp đặt câu chuyện của mình lên cộng đồng của bạn, chừng đó bạn còn phải trả nhiều nhiều tiền để có được cái tỷ lệ impression như ví dụ ở trên.

Tất nhiên mục tiêu cuối cùng của bạn là áp đặt vào tâm trí cộng đồng đúng cái mà bạn muốn, nhưng phải hiểu cách, biết cách để khéo léo đạt được mục tiêu của mình. Trong trường hợp đó cái tôi của brand phải vô cùng linh hoạt.

Social media không dễ như vậy. Nhìn vậy mà hổng phải vậy.

 

Honda nhắm tới người dùng trên Pinterest

Với việc ra mắt trang chính thức trên Pinterest từ hơn một tuần trước và khởi động một chiến dịch social media nhắm vào đối tượng người dùng trên trang này, Honda trở thành một trong những thương hiệu ô tô đầu tiên thực hiện một hoạt động marketing đột phá trên nền tảng mới này.

Lauren Ebner, trợ lý giám đốc social media của Honda Motor Mỹ đã phát biểu với tạp chí Ad Age: “Đó là một social media network phát triển quá nhanh chóng và có vẻ đó là một đầu ra khá tốt, khác lạ và sáng tạo cho chúng tôi và là một cơ hội để sử dụng một phương tiện mang tính hình ảnh để quảng bá các sản phẩm ô tô của chúng tôi.”

Honda “muốn có cơ hội để đăng tải những hình ảnh về sản phẩm ô tô trên trang này như là một cách để lôi kéo người dùng về website của chúng tôi.” Bà Ebner cho biết thêm. “Phần lớn những hình ảnh trên trang này đều link tới trang honda.com, và người dùng có thể tìm hiểu thêm về chiếc xe theo cách này.”

Bên cạnh việc tham gia vào trang này, Honda đã khởi động một chiến dịch tập trung trên Pinterest với sự hỗ trợ của một agency lâu năm ở Santa Monica – RPA. Họ đã tìm ra những “pinners” hàng đầu của Pinterest và đề nghị trả cho mỗi người 500 đô la cho mỗi “Pintermission” (nghỉ tham gia trên Pinterest trong vòng 24 giờ) để đi ra ngoài và thăm thú một vài địa điểm hoặc mua một vài sản phẩm mà họ đã từng pin (đăng) trên Pinterest. Cho đến giờ, đã có một người lập kế hoạch dành số tiền này để đi tới London và một người khác chuẩn bị đi Hawaii, bà Ebner cho biết.

“Chúng tôi đang thử nghiệm với chiến dịch đầu tiên này, nhưng đây sẽ là cơ hội tốt để tiếp thị việc ra mắt các sản phẩm khác của chúng tôi (trong tương lai), bà Ebner nói thêm.

Cho đến nay, sản phẩm Honda CR-V sẽ là mục tiêu của chiến dịch trên Pinterest, bởi vì dòng sản phẩm này nghiêng về giới nữ, khá giống với Pinterest.

“Chiếc xe này rõ ràng là hướng tới đối tượng khách hàng nữ,” bà Ebner nói. “Từ các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phụ nữ tìm kiếm một chiếc SUV nhỏ hơn và có nhiều không gian sử dụng nhất có thể… Nhưng đó không phải là một cái xe tải to tướng mà một người phụ nữ như tôi không hề muốn lái.”

Pinterest, mạng xã hội ra mắt vào tháng Ba năm 2010, là một trong những nền tảng phát triển nhanh nhất, đã đạt tới mốc 10 triệu người dùng hàng tháng, nhanh hơn rất nhiều so với Facebook và Twitter từng đạt được. Mạng xã hội này đang xếp trong top 30 các trang web tại Mỹ về tổng số page views. Báo cáo của ComScore cho biết phụ nữ tạo ra 85% hoạt động trên trang này, lưu lại trên trang rất lâu, và họ là những người dùng có thu nhập khá cao.

Hiện chưa có nhiều các nhà sản xuất ô tô có mặt trên Pinterest, và số nhà sản xuất có tính đến việc sử dụng Pinterest vào các hoạt động marketing của mình còn ít hơn.

Hoạt động marketing thông minh nhất trên Pinterest cho đến thời điểm này chính là của Peugeot tại Panama hồi tháng trước với một cuộc thi trên Pinterest để khuyến khích followers đối với trang của thương hiệu này. Trên trang của Peugeot Panama là các câu đố miêu tả các đời xe khác nhau với một miếng hình bị thiếu. Người dùng có thể tìm miếng hình bị thiếu này tại Facebook Page của Peugeot Panama hoặc từ website của thương hiệu này, sau đó “pin” lên trang của mình và chia sẻ cho Peugeot. Người hoàn thành hết các câu đố này sẽ được trao giải. Xem chiến dịch này tại Creativity Online.

Volkswagen và Subaru là một số ít thương hiệu đã thử nghiệm với Pinterest, trong khi Infiniti và Nissan đã bước chân vào nhưng gần như không có hoạt động gì. Khi mạng xã hội này ngày càng phát triển, sẽ khá thú vị để quan sát xem các nhà sản xuất ô tô sẽ tìm cách tiếp cận hợp lý đối với người tiêu dùng của họ như thế nào.

Nguồn: Ad Age

Facebook Timeline dành cho doanh nghiệp: 6 thay đổi lớn những người làm marketing cần biết

Hôm 1/3/2012 vừa qua, Facebook đã thông báo tới những người làm marketing trên toàn thế giới rằng trong vòng tháng này, tất cả những gì mà những người làm marketing đã biết về fan Pages trên Facebook sẽ hoàn toàn thay đổi. Để bạn có thể sẵn sàng cho việc sử dụng format Timeline mới cho Page công ty của mình, dưới đây là 6 thay đổi quan trọng mà bạn phải nắm được trước tiên.

1. Thay đổi về giao diện

Điểm mới: Định dạng của Timeline dành cho các thương hiệu khá là giống với định dạng dành cho profile của cá nhân. Nó sử dụng một ảnh cover phía trên đầu trang, và trang được chia thành hai cột chính tách biệt nhau với những đường phân chia, biểu thị cho các mốc thời gian. Định dạng này cho phép các thương hiệu/doanh nghiệp những cơ hội, lựa chọn mới để thể hiện chính mình: có thể phác họa lịch sử của công ty với các mốc thời gian quan trọng (ví dụ các thời điểm ra mắt sản phẩm, khai trương cửa hàng…) để đem đến cho người xem một cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp.

Gợi ý: Các mốc lịch sử là một cơ hội khá quan trọng và ấn tượng để giúp công chúng nhận thức tốt hơn về doanh nghiệp, làm cho thương hiệu trở nên sinh động và xóa bỏ được cái nhìn về một thương hiệu ảo. Phân tích của các chuyên gia về tính gắn kết với cộng đồng người dùng của các Page tiếp tục cho thấy việc các thương hiệu đăng những nội dung mô tả những hoạt động “phía sau sân khấu”, những thông tin độc quyền hoặc các chương trình khuyến mại thường có được lượng tương tác và quảng bá lớn hơn. Sử dụng những cột mốc thú vị để kể những câu chuyện đã qua về thương hiệu (và cập nhập lên Timeline những cột mốc mới khi có sự kiện xảy ra) có thể giúp tăng cường sự trao đổi, tương tác với cộng đồng và đạt được những thành công đáng kể.

2. Bớt các Tab hiển thị

Điểm mới: Định dạng Timeline mới không có bảng điều khiển bằng các links liên kết bên trái, nơi trước đây có thể đặt được hàng trăm links. Khi sử dụng định dạng mới này, các apps sẽ xuất hiện dưới dạng các hình chữ nhật bên dưới Cover Photo. Độ rộng của Timeline và phần diện tích dành cho các Apps mặc định như Photos đồng nghĩa với việc chỉ có thể xem được tối đa 3 tab một lúc. Để xem nhiều hơn, người dùng phải mở rộng bảng điều khiển tab bằng việc click vào một drop-down box.

Gợi ý: Đối với những người làm marketing, thay đổi lớn này đồng nghĩa với việc 3 tab ứng dụng nói trên cần phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng – vì đây là một trong những điều đầu tiên mà user nhìn thấy khi tương tác với thương hiệu trên FB. Các thương hiệu sẽ muốn chọn xem tab nào nên được hiển thị ở đây phụ thuộc vào mục tiêu hiện tại của công ty hoặc là độ phổ biến của sản phẩm. Một công cụ phân tích Page tốt sẽ rất cần thiết để xác định xem tab nào là phù hợp nhất mỗi ngày.

3. Không còn trang Landing Page mặc định

Điểm mới: Với định dạng Timeline mới của Page, bạn sẽ không còn có thể nhìn thấy trang landing page mặc định nữa, mà đây là một trong những tính năng được các thương hiệu yêu thích nhất. Sở dĩ như vậy vì đây là một trong những lựa chọn hàng đầu giúp các thương hiệu có được ấn tượng đầu tiên và ngay lập tức đối với người dùng. Kể từ khi không còn các tab cho Pages nữa thì cũng không còn cách nào để có thể cài đặt được một trang mặc định. Điều này sẽ thay đổi hoàn toàn ấn tượng của người dùng khi lần đầu tiên vào trang Timeline của thương hiệu.

Gợi ý: Bạn sẽ cần phải áp dụng cách gây chú ý mới và hết sức cẩn thận đối với các thông điệp phía trên cùng của Timeline, bởi vì đó sẽ là những đối tượng đầu tiên mà các user nhìn thấy khi ghé thăm Page. Điều này có nghĩa là, quảng cáo Facebook sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, bởi vì quảng cáo là một trong những cách chủ yếu giúp các thương hiệu có thể tác động được vào trải nghiệm của người dùng trên FB. Xây dựng một chiến dịch quảng cáo trên FB hoặc xây dựng một App mới là cách duy nhất lúc này để khiến người dùng click vào ứng dụng đó (khi mà landing Page không còn có thể đặt default nữa).

4. Làm nội dung nổi bật kiểu mới

Điểm mới: Một tính năng mới quan trọng mà các maketers sẽ rất yêu thích là khả năng cho phép “pin” (đính) một số post nhất định lên trên cùng của Timeline. Nó cũng giống như việc đặt bài viết nổi bật của blog, và theo cách đó, bài viết này sẽ đứng trên cùng của blog trong một thời gian nhất định, việc đính post trên cùng của Timeline cho phép nó xuất hiện trước tất cả các nội dung còn lại. Post đính trên cùng được phân biệt với các post khác bằng một lá cờ nhỏ màu da cam. Mỗi một lúc chỉ có thể đính 1 post, và post được đính đó sẽ xuất hiện tại 2 nơi – trên cùng của Timeline và ở vị trí theo đúng trật tự thời gian của nó. Một khi bạn đã gỡ post này xuống (việc này diễn ra tự động khi có một post mới được đính lên, hoặc khi post được đính lâu hơn 7 ngày), thì post này sẽ chỉ xuất hiện theo trình tự thời gian trên Timeline, nhưng sẽ không có dấu hiệu nào cho biết nó đã từng được đính làm post nổi bật trước đó.

Gợi ý: Kể từ lúc bạn không còn có thể tạo các trang landing Page nữa thì những nội dung được bạn đính lên trên cùng của Timeline sẽ trở thành một vị trí chiến lược cho những người làm marketing theo đuổi, nhằm đăng tải những nội dung nổi bật hoặc thú vị. Chúng ta đã bắt đầu thấy các chuyên gia marketing bắt tay vào việc thiết kế những nội dung đặc biệt để đính lên vị trí này, cho dù là ảnh, một nội dung call-to-action được thiết kế tốt, hay một tuyên ngôn về thương hiệu hay đơn giản chỉ là một thông điệp kêu gọi người dùng click vào một trong những tab nằm bên dưới cover photo.

5. Tab nội dung và các Apps hiện có đã trở nên lạc hậu

Điểm mới: Timeline mới thay đổi việc cấu hình vị trí của các tab hiện có trên Page (gồm một tab rộng 520 pixel) và thay bằng một tab mới rộng 810 pixel. Vì thế nội dung của tab trước đó sẽ xuất hiện gọn lỏn giữa tab 810 pixel mà không thể điều chỉnh được. Tất cả các App hiện có trên Page sẽ cần có các icons mới (kích thước mới là 111×74).

Gợi ý: Áp lực lớn nhất cho các thương hiệu là việc cập nhật hình ảnh mới và các tab chức năng của 2 ứng dụng nổi bật bên dưới Cover Photo. Vì đây sẽ là những tab đầu tiên mà người dùng nhìn thấy, và cũng sẽ là những phần mà người dùng có xu hướng tương tác nhiều nhất, hoặc là họ sẽ hoàn toàn bỏ qua nếu nó không được đầu tư đúng mức.

6. Hòm thư riêng giữa thương hiệu và người dùng

Điểm mới: Cuối cùng, các thương hiệu cũng có thể gửi và nhận thư riêng đối với người dùng. Điều này cho phép việc tương tác sâu hơn đối với người tiêu dùng và cũng cho phép người quản lý Page mở rộng từ việc tương tác với khách hàng trên Timeline tới chỗ gửi thư riêng để trao đổi.

Gợi ý: Hãy quan tâm tới độ nhiễu của Timeline. Bởi vì không gian trên Timeline đã được phân bổ cho từng post và nó phụ thuộc vào mức độ tương tác, gắn kết với người dùng, do đó rất dễ rơi vào tình trạng bị phân tán chia cắt bởi các tương tác của người dùng. Khi những tương tác của người dùng cần phải sâu hơn là chỉ dừng ở mức độ lần lượt trả lời từng người một, thì việc sử dụng hòm thư riêng có thể giải quyết được vấn đề này. Nó vừa giúp cho người dùng hài lòng hơn đồng thời cũng giúp cho Timeline sạch sẽ hơn.

Timeline cho thương hiệu chắc chắn sẽ là một thay đổi với đối với những người làm marketing trên social media, những người mong muốn tạo ảnh hưởng trên Facebook. Nhưng có một điều chắc chắn là: cách mà một nội dung được chia sẻ và đón nhận trên Timeline Page là vô cùng quan trọng. Những thương hiệu theo đuổi việc tạo ra những nội dung có tính tương tác cao và chia sẻ những mốc lịch sử quan trọng sẽ nắm giữ được tâm trí của người dùng. Xây dựng và thử nghiệm những ứng dụng mới gắn với tương tác của người dùng và đính những nội dung phù hợp, đúng thời điểm và cập nhật những trao đổi thân thiện với người dùng sẽ là hướng tiếp cận phù hợp trên không gian này.

Công ty của bạn đã thử nghiệm Timeline chưa và có điểm gì khác biệt không? Hãy chia sẻ sáng kiến của bạn nhé.

Nguồn: Facebook Brand Timelines: 6 Big Changes Every Marketer Needs to Understand

Bài học về khủng hoảng truyền thông xã hội từ trường hợp của KFC Malaysia

Hôm nay tạp chí Campaign Singapore đã có bài viết về việc KFC Malaysia cần phải có cách tiếp cận chủ động về PR, theo nhận định của những người theo dõi ngành hàng này.

Các chuyên gia cho rằng thất bại của KFC trong việc phản ứng đối với vụ nhân viên tấn công khách hàng gần đây tại Malaysia là đã không đưa ra được chiến lược tốt nhất và để cho sự cố này lan rộng trên truyền thông xã hội.

Các chuyên gia PR và truyền thông đã chỉ trích KFC Malaysia trong việc xử lý vấn đề PR gần đây nhất của họ, trong việc bị cáo buộc tấn công khách hàng với bằng chứng là một đoạn video được phát tán trên mạng, đặc biệt là vào thời điểm các khủng hoảng truyền thông gần đây vẫn đang để lại ảnh hưởng.

Một trong những bức ảnh được phát tán trên mạng với chú thích: Đây là trang phục bạn nên mặc khi làm khách hàng của KFC (chỉ có ở Malaysia)

Jim Goh, CEO của Briq Communications, cho rằng thương hiệu này cần phải hành động minh bạch nhưng thay vào đó họ lại đưa ra những tuyên bố mang tính lạc quan nhằm xoa dịu tình hình. “Mọi người giờ đây đang ẩn danh phía sau (truyền thông xã hội – social media), họ có thể là bất cứ ai với một lịch trình không được tiết lộ và có thể làm bất kỳ một hành động thực tế nào. Đồng thời, họ có rất nhiều câu hỏi và KFC cần phải đứng ra để làm sáng tỏ mọi điều và làm cho họ bình tĩnh trở lại,” ông nói với tạp chí Campaign.

Lấy ví dụ về sự cố nứt cánh của máy bay Airbus A380 gần dây, Goh lưu ý rằng Giám đốc điều hành của hãng này đã đứng ra giải thích vấn đề và trực tiếp giải quyết nó. Đó là một động thái tốt, ông nói thêm, và có thể giúp lấy lại được niềm tin của khách hàng.

Sự cố gần đây nhất đã trở thành một thảm họa PR đối với KFC và đã hủy hoại nghiêm trọng đến hình ảnh của thương hiệu, thông qua việc các công dân mạng đã đăng tải một số video và hình ảnh chỉ trích thương hiệu này.

David Ko, phó giám đốc của Waggener Edstrom tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, cho biết: “Phải mất quá nhiều thời gian thì KFC mới thể hiện họ quan tâm và chú ý tới vấn đề này cũng như đưa ra lời xin lỗi về thái độ thô lỗ không thể chấp nhận được của nhân viên. Như thế là quá chậm để bày tỏ họ có quan tâm tới khách hàng của mình, và trong trường hợp này, triết lý về dịch vụ của họ không hề được tôn trọng. Tôi không thể nói rằng KFC là trường hợp duy nhất, nhưng nhẽ ra họ phải ngăn chặn được việc giải quyết hậu quả của sự cố theo cách này.”

“Trong thời đại ngày nay, người tiêu dùng được tiếp cận với rất nhiều nền tảng giao tiếp khác nhau, mà trong đó Internet đóng vai trò then chốt. Họ không còn chỉ ngồi đọc nội dung mà còn tham gia vào việc tạo ra nội dung và trao đổi nội dung với những người khác. Social Media và các phương tiện online khác không còn là một chiến thuật marketing “nice-to-have” nữa. Nếu các thương hiệu muốn kết nối và tương tác với khách hàng của mình, họ cần phải khám phá tất cả các nền tảng có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới họ,” Ko trả lời Campaign.

Tổng kết lại, việc cáo buộc tất công này xảy ra khi khách hàng, một số người đã chờ suốt 45 phút tại một cửa hàng KFC tại I-City, được thông báo là cửa hàng đã hết gà rán. Trong số này có cả những người đang chờ để mua lại vouchers có bao gồm phí chơi đu quay, nhà tuyết và đi xe ngoài trời tại I-City.

Một trong số khách hàng sau đó đã yêu cầu quản lý cửa hàng có lời xin lỗi, sự việc lên đến đỉnh điểm là khi một nhân viên của KFC đã thượng cẳng chân hạ cẳng tay với khách hàng này. Sự cố này đã được ghi hình và sau đó phát tán trên mạng.

Ban quản lý của KFC sau đó cũng đưa ra một đoạn video, nói rằng việc này đã được trình báo cảnh sát về tội cáo buộc tấn công và nhóm làm việc ngày hôm đó đã bị đình chỉ công việc. Đoạn video đã nhận được hơn 2,400 comment trên Page chính thức trên Facebook. Trên wall của trang này cũng ngập lụt hàng ngàn comments, cả tích cực lẫn tiêu cực, liên quan tới vụ việc.

Ông Ko lưu ý rằng, sự cố trước công chúng như thế này cho thấy tầm quan trọng của quá trình giải quyết khủng hoảng truyền thông một cách nhanh chóng, đặc biệt quan trọng đối với những thương hiệu tiêu dùng như KFC. Hơn hết, danh tiếng của thương hiệu là điều quan trọng nhất và khách hàng cần phải được đặt ở “trái tim” của mọi nỗ lực truyền thông.”

“Trong tai nạn này, ở một khía cạnh nào đó KFC đã đứng về phía nhân viên thô bạo của mình, kẻ có hành vi không thể chấp nhận được, cho dù bị kích động hay là vì bất cứ lý do nào. KFC nên đứng ra ngay để xin lỗi, cho công luận thấy cách xử lý kỷ luật hành vi này, bất kể cho dù nó là kết quả của việc bị khiêu khích hay không. Nhưng họ đã không làm vậy, và như chúng ta đã thấy, nó có thể để lại hậu quả tiêu cực trong một thời gian dài đối với thương hiệu quốc tế này.”

Một nhà quan sát trong lĩnh vực đã nói: KFC cần thiết phải giải thích với cộng đồng mạng và cần phải chủ động hơn trong việc giải quyết khủng hoảng này bởi vì đây là một thương hiệu định hướng tiêu dùng. “Họ (KFC) có thể đặt ra câu hỏi vì sao họ lại phải làm những việc đó nhưng để giải quyết vấn đề, KFC nên có lời giải thích và trình bày những hành động kỷ luật đối với nhân viên liên quan trong vụ việc này. Đối với những videos và hình ảnh đã bị phát tán, tôi cho rằng chúng đã bị lạm dụng,” ông này cho biết.

Các chuyên gia trong ngành lưu ý rằng, việc một thương hiệu như KFC bị tấn công là một việc phổ biến bất cứ khi nào có một sơ sẩy nào đó, và đây cũng là một trường hợp cá biệt. Tuy vậy, với 3 sự số liên quan đến social media trong vòng chưa tới 1 năm, KFC nên xem lại toàn bộ chính sách marketing và truyền thông của mình.

Một chuyên gia nhấn mạnh rằng thương hiệu này phải thắt chặt lại chính sách của mình khi thực hiện các chiến dịch marketing. “Khi bạn thực hiện một chiến dịch, tốt nhất là không nên để bất kỳ sự cố nào xảy ra. Bạn cần phải phát hiện ra khoảng trống và cải thiện nó.”

Goh đồng ý rằng: “Khi bạn phục vụ hàng triệu người, PR và marcomms (marketing communications) cần phải được coi là gốc rễ của vấn đề. Trong trường hợp này, lỗi xảy ra trước tiên là ở việc cửa hàng hết gà để bán. Hay là có việc gì đó không ổn vào thời điểm mà người nhân viên gây ra sự cố này?”

Các cột mốc Social Media năm 2011

Theo bạn đâu là những cột mốc đánh dấu những thời khắc làm nên lịch sử của Social Media trong năm vừa qua? Các chuyên gia đã tổng hợp lại từ nhiều nguồn tham khảo và đưa ra những cột mốc đáng nhớ sau đây.

Nguồn: http://yoursocialmove.com/the-2011-social-media-timeline

Các nguồn tham khảo:

Buck, Stephanie. “A Visual History of Twitter [INFOGRAPHIC].” Social Media News and Web Tips Mashable The Social Media Guide. http://mashable.com/2011/09/30/twitter-history-infographic/.

Bullas, Jeff. “Google+ Hits 25 Million Users in Less than One Month.” JeffBullas.com. http://www.jeffbullas.com/2011/08/04/google-hits-25-million-users-in-less-then-one-month/.

“Foursquare Now Officially At 10 Million Users | TechCrunch.” TechCrunch. http://techcrunch.com/2011/06/20/foursquare-now-officially-at-10-million-users/.

Johnson, James. “Klout Changes Algorithm, Many Users Find Scores Negatively Effected” The Blog Herald. http://www.blogherald.com/2011/10/26/klout-changes-algorithm-many-users-find-scores-negatively-effected/.

Taylor, Chris. “Twitter Has 100 Million Active Users.” Social Media News and Web Tips Mashable The Social Media Guide. http://mashable.com/2011/09/08/twitter-has-100-million-active-users/.

Titlow, John Paul. “Facebook Hits 1 Trillion Pageviews.” ReadWriteWeb. https://www.readwriteweb.com/archives/facebook_hits_1_trillion_pageviews.php.

“Twitter – Wikipedia, the free encyclopedia.” Wikipedia, the free encyclopedia. http://en.wikipedia.org/wiki/Twitter#cite_note-76http://.

“Twitter Blog: #numbers.” Twitter Blog. http://blog.twitter.com/2011/03/numbers.html.

Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện mình

Và cuối cùng thì ngoài kia trời đang mưa. Mưa một cách nồng nhiệt, được cổ vũ bằng hàng tràng sấm đì đoành, rổn rảng y như một doanh trại pháo binh ven đô đang thả sức nổ pháo vào bầu trời thành phố. Mưa, và pháo binh tập trận.

Viết nhật ký, mà không, viết blog vào một buổi sáng thứ Hai hình như là một điều không bình thường, ở cả hai chữ Nhật ký và Thứ Hai. Vì lâu lắm rồi không viết một cái gì đó có thể đại khái gọi là nhật ký. Vẫn tin tuyệt đỉnh vào một nhận xét tuyệt đỉnh của ai đó, rằng những kẻ chăm chỉ viết nhật ký là những kẻ nắm chỉ số tự vẫn cao nhất. Đã lâu lắm rồi, kể từ cái hồi chỉ số tự vẫn còn khá cao, giờ đây lại bắt gặp mình đang làm cái việc giúp chỉ số này (về mặt nguyên tắc) tăng một cách đáng kể. Nhưng đó chỉ là về mặt nguyên tắc, còn hành vi ngồi kỳ cạch viết vào giữa một buổi sáng thứ Hai này không liên quan gì đến chuyện tự vẫn, mà như một hối thúc đến hồi mệt mỏi. Như một đứa bé đến kỳ đã chán ngán với thành bụng tối tăm và thứ ánh sáng đỏ quạch nhìn thấy được qua nhau thai, đã muốn phá bung cái màn bùng nhùng đỏ và chật chội ấy để tận mắt nhìn thấy ánh sáng và khí trời. Như tất thảy mọi thứ đã đến lúc, đến kỳ trên thế gian này. Cơn khát được viết ra một thứ gì đó, hay là tất cả những thứ đang bị nhốt chặt trong đầu, đến mức sắp nhũn ra, chảy ra, đã khiến sáng thứ Hai không có điều kiện được diễn ra theo trật tự như thông lệ bằng họp hành, báo cáo…, mà thành một buổi sáng mưa đi kèm với pháo binh.

Tóm lại là nhu cầu được viết. Được viết ra một cái gì đó, bất kể là cái gì, có thể gọi là nhật ký, là một blog post, là bất kỳ một dạng có thể gọi tên nào, nhưng đều chỉ có duy nhất một mục đích là được diễn đạt một cái gì đó trong đầu ra thành chữ. Thật là tệ hại! Một người sống vì chữ nghĩa, sống bằng chữ nghĩa, và phần lớn cuộc đời loay hoay nghĩ về nó, nhưng cuối cùng lại phải đấu tranh một cách thống khổ hàng ngày với bản thân là làm thế nào để đừng viết.

Cuộc đấu tranh này từng thất bại một lần, vào những năm cuối thập kỷ 90 và đầu những năm 2000. Những năm đó, bằng một nỗ lực chưa thể gọi là phi thường nhưng khá đáng kể, tự biến mình từ một kẻ có chỉ số tự vẫn cao, trở thành một người có chỉ số bình thường ở mức trung bình. Khi chỉ số tự vẫn tự chết đi, thì chỉ số bình thường sẽ ngày một cao lên, cho tới mức nó đạt tới ngưỡng trung bình khá, thậm chí là khá. Lúc đó thì, chưa hẳn là bi kịch, nhưng một kiểu hoàn cảnh trớ trêu thực sự nảy sinh, đối với một kẻ mới chỉ quen với cuộc sống xoay quanh những con chữ.

Cuộc đấu tranh đó đã thất bại thảm hại, chỉ số bình thường bị trả giá bằng những đau đớn về mặt tâm hồn, ở khía cạnh quan hệ yêu đương, cuộc sống, nhưng bù lại tâm hồn, với những chỉ số riêng của nó, lại được giải tỏa và bổ sung những nguồn năng lượng đáng kể. Đó là khi một cậu bạn, như bị một kẻ từ trên cao xúi giục, rỉ vào tai rằng: “Trong con người chị đã có một Carmen rồi, dù chị có tắt nhạc đi thì cô nàng vẫn nhảy, dù chị có ru cô ta ngủ thì một ngày kia cô ấy cũng sẽ choàng tỉnh dậy. Và khi đó, có nhạc nhẽo hay không, cô ấy vẫn nhảy múa. Và điệu múa khi không nhạc đó nó mới thực sự là điên cuồng.” Tất nhiên, cậu bạn đó không hoàn toàn nói như vậy, nhưng ý nghĩa của những gì cậu bạn đã rỉ vào tai thì tuyệt đối trọn vẹn là như thế.

Và cuộc đấu tranh đã thất bại thảm hại. Với sự ra đời của bốn chương năm 2001, và bỏ lửng luôn ở đó, khi chỉ số bình thường, một lẫn nữa lại có cơ hội trỗi dậy. Và lần đó, nó trỗi dậy khá lâu, với một sức sống dẻo dai, được bổ trợ bằng những trợ thủ mang tên hoàn cảnh, tiền bạc, gia đình, con cái và rất nhiều cái mác dấm dớ khác. Nhạc đã tắt. Đĩa than đã ra khỏi máy quay đĩa. Kim đã hỏng. Thứ được sinh ra để làm nhiệm vụ hát hỏng đã dùng thời gian để tự hủy hoại thiên chức của nó (cứ cho là nó thực sự có thiên chức đó). Nhưng không tránh khỏi được cái ngày đứa con gái ngủ bên cạnh cái máy hát hỏng bừng tỉnh và bắt đầu nhảy múa.

Lần này là cách đây chừng 2 tháng. Lần trước, cô nàng choàng tỉnh sau khi mình đọc “The Catcher in the Rye” (Bắt trẻ đồng xanh) của J. D. Salinger, mà nhân vật chính mới 17 tuổi. Lần này, cô nàng ngủ bớt mê mệt hơn nên liên hồi tỉnh giấc. Là khi phát giác ra “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần mà nhân vật chính mới 23 tuổi, là khi mải miết đọc “Suối nguồn” của Ayn Rand hay trong suốt khi ngâm ngợi lại toàn bộ Murakami – “Rừng Nauy”, “Phía Nam biên giới, Phía Tây mặt trời”, “Ngầm”, “Biên niên ký chim vặt giây cót”, “Người tình Sputnik”, “Ở xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới”. Và đặc biệt, “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ.” Hay là khi đối diện lại với Jaromil, Jan Mark (tên nhân vật) của Milan Kundera và sự kinh ngạc cứ lần hồi lớn lên vào mỗi lần đọc lại “Kẻ xa lạ” của Albert Camus

Sáng ngủ dậy, trời đục như khói. Chồng không tin vào mắt đẩy cửa sổ thò tay ra ngoài hy vọng mưa sẽ chấm lên bàn tay. Nhưng không có giọt mưa nào cả. Mùa thu đã bắt đầu. Xỏ vào chân đôi tất đen ngắn đến mắt cá, xỏ tiếp vào đôi giày thể thao trắng. Xỏ quai của cái bình đựng nước màu xanh biển sâu vào ngón tay, rảo thật nhanh ra thang máy rồi xuống hầm. Chưa kịp quen với ý nghĩ đã là mùa thu, nên không buồn kéo cửa kính xuống để xem heo may năm nay có gì mới. Hai vợ chồng đến sân tập.

Thầy giáo dạy tennis chưa tới. Không nhớ hôm nay là buổi tập thứ bao nhiêu đã trải qua, chỉ có thể tính chừng hai mươi buổi nữa, nếu suôn sẻ, thì sẽ không còn cơ hội ra sân tập mỗi sáng, để tập trung thời gian và sức khỏe cho một việc hệ trọng khác. Trong tất cả những lần thầy huấn luyện đến muộn, trong lúc chồng co giãn các cơ để chuẩn bị cho ít nhất 30 phút không nghỉ tập quả trái, quả phải, đỡ bóng trên không và làm quen với một số động tác khó khác, thì mình thường ngồi ngái ngủ trên ghế và ước có thể nằm xuống ngủ tiếp. Nhưng sáng nào cũng vậy, khoảng trời còn lộ ra phía sau dãy nhà tập thể cũ bên cạnh sân bóng lúc nào cũng có một lũ mây chạy qua. Hôm nắng sớm thì mây vàng, mây hồng. Hôm âm u thì mây đen. Có lúc thì mây đen như một mẹ già khó tính nằm bên dưới, kèm cô con gái mây hồng mơn mởn đang tít mít theo gió phía trên. Hôm nay vẫn là một lũ mây, nhưng không hồng cũng không đen. Một thứ mây mùa thu. Và dù là mây nào, thì chúng cũng đặc biệt làm mình chú ý tới mức tỉnh ngủ.

Và vào đúng lúc cơn tỉnh ngủ nói lời chào buổi sáng, thì thầy huấn luyện sẽ xuất hiện. Đó là một cậu thanh niên rắn rỏi và nhỏ bé. Bắp chân của cậu có lẽ chỉ bằng cánh tay của một người vạm vỡ, nhưng những động tác đánh bóng của cậu thì hoàn hảo. Và qua chừng ấy buổi tập, có thể nói cậu là một giáo viên không hề tồi, có thể biến một kẻ một ngàn lần từ chối môn tennis và một ngàn lần tay không cầm nổi vợt, giờ đã có thể đánh được quả phải, quả trái và chạy liên tục trong vòng tối thiểu 20 phút.

Trong lúc chồng và thầy huấn luyện chuyện trò bằng những pha giao bóng và những màn không qua lưới thì mình bắt đầu chạy bộ. Chưa bao giờ suy tư nhiều về chạy bộ, ngay cả lúc ra khỏi nhà vào mỗi sáng, chạy (mà đúng hơn là đi bộ) hai vòng quanh hai cái hồ nhân tạo có rất nhiều liễu rủ xanh, bằng lăng nở tím và phượng rụng đỏ, thì cũng chưa một lần suy tư nhiều về chạy bộ. Thật đúng lúc là lại đọc lại Murakami và “Tôi nói gì khi nói về chạy bộ” vào ngay lúc này. Mất tới 2 tuần để đọc lại. Lúc nào cũng mang quyển sách trong túi đeo vai và giở ra đọc bất kỳ khi nào có cơ hội. Nhưng cũng mất tới 2 tuần để kết thúc. Và kể từ lúc bắt đầu chạy bộ lại cùng Murakami đó, mỗi ngày đến sân tennis lại có những suy tư khác. Nếu Murakami đạt tới trạng thái rỗng không mỗi khi chạy bộ, thì mình lại đầy ưu tư mỗi lần ngồi trên sân tennis giữa lúc chờ đến lượt. Tất nhiên so sánh này hoàn toàn khập khiễng. Bởi vì trạng thái gần như rỗng không chỉ đạt được khi người ta vận động đến một mức nào đó, mà Murakami gọi là một trạng thái “thâm trầm, thậm chí là thiền định”. Còn mình hoàn toàn không vận động, mà ngồi giữa cái vận động của người khác, và ngẫm về những thứ đang biến đổi hàng ngày như đám mây bay qua khoảng sân hay mặt đường khô cong như một giờ trước chưa hề có một cơn mưa xối xả.

Trong những cơn trầm mặc đó, thường ít có những gương mặt vui và chỉ là những nhăn nheo, sù sì, thô ráp. Thường là những thứ làm cho chân mày trĩu xuống và mắt thì trũng sâu. Rõ ràng là những cơn trầm mặc có hại cho sức khỏe. Ở đâu đó người ta có nói: “Kỷ niệm hạnh phúc không còn là hạnh phúc, kỷ niệm đau khổ là đau khổ khôn nguôi.” Những ai đạt tới trang thái suy tư về những điều đã qua với hoàn toàn nhẹ nhõm và bình an, đó là người đã gần chạm tới cái hoàn thiện. Giữa độ tuổi ba mươi, hiếm ai dám nhận mình đã chạm tới cái ngưỡng ấy. Và những cơn suy tư cứ tiếp tục ngập tràn với những nỗi muộn phiền mênh mông. Cho tới khi nỗi hối thúc đến hồi mệt mỏi lại được tiếp sức bằng sự dẻo dai trong triết lý của một người chạy bộ, khiến cho mọi thứ muộn phiền bỗng trở nên vô nghĩa, và một thứ hối thúc khác lại đến. Thứ hối thúc được chạm tới cái hoàn thiện, tới cái nhẹ nhõm và bình an.

Và nó không gì khác hơn là việc ngồi nghe mưa và sấm đì đoàng như pháo binh tập trận. Là nhìn bầu trời một nửa vàng rờ rỡ và nửa còn lại mây đen ngút ngàn như phút giây khởi đầu của ngày tận thế. Là khi gạt lại hết mọi thứ, để chỉ duy nhất một thứ thôi, thực sự bắt đầu.

Cuối cùng thì những dòng này sẽ được publish dưới dạng một blog post. Nó sẽ không giúp gì cho ai, kể cả là nó có giúp gì cho ai, thì điều đó đâu có quan trọng gì. Quan trọng là mình hiểu được “Mình Nói Chuyện Gì Khi Mình Nói Chuyện Mình”! (Mượn của cả Raymond Carver và Murakami).

Hoa và Mưa sáng nay