Facebook Page hay Microsite? (Phần 2)

Khi nào thì cần đến Microsite?

Những microsite đầu tiên bắt đầu được ứng dụng để hỗ trợ công việc Marketing là vào năm 1999 với những tập đoàn nổi tiếng hàng đầu như Sony. Đã hơn 1 thập kỷ kể từ ngày có khái niệm Microsite, hình thức này vẫn còn phát huy nhiều tác dụng trong việc hỗ trợ những người làm marketing thực hiện các ý tưởng táo bạo đối với nhóm công chúng mục tiêu tập trung chủ yếu trên Internet.

Phân biệt Corporate Site và Microsite

Trước tiên, nên phân biệt Microsite (hay còn được gọi là Minisite) với Corporate Site. Một doanh nghiệp thường có một website chính, gọi là Corporate Site, làm nhiệm vụ như một tài liệu marketing với những thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Cách đây vài năm tôi đã có một vài bài viết liên quan đến Corporate Site nói chung và Coporate Site ở Việt Nam nói riêng, các bạn có thể tham khảo thêm để hiểu rõ hơn và có định hướng đúng hơn khi xây dựng website doanh nghiệp.

Với một Corporate Site, nội dung thường ít thay đổi, thường là những nội dung xương sống để giúp khách hàng lần đầu cũng như khách hàng quen thuộc khi vào xem website có được cái nhìn cơ bản nhất về dịch vụ, sản phẩm, con người, lịch sử… của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào Digital Marketing thường có xu hướng thay đổi giao diện của Corporate Site theo đơn vị năm, hoặc thậm chí bất cứ khi nào có xu hướng mới được cập nhật về giao diện web trên thế giới. Phần lớn những lần thay đổi này đều tập trung vào giao diện (hình thức), và những cải tiến để nó đến gần với người dùng hơn, tiện lợi hơn. Doanh nghiệp cũng có thể thay đổi giao diện khi có sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm, hình thức dịch vụ mà một điểm nào đó cần phải được nhấn mạnh hoặc tháo bỏ. Thường các thay đổi này mang tính cấu trúc, còn nếu chỉ đơn thuần là thay đổi nội dung hiển thị thì với một website động, việc thay đổi hình ảnh, nội dung, hạng mục… chỉ tốn vài thao tác đơn giản.

Bên cạnh những phần thông tin “fix cứng” như đã nói ở trên, với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp năng động và doanh nghiệp quy mô lớn, thì việc chỉ sử dụng website vào việc giới thiệu doanh nghiệp, như một Contact form hay là một Portfolio, Credentials trên Internet không thể thoả mãn hết các nhu cầu trong việc làm tiếp thị của doanh nghiệp. Nhất là khi càng ngày môi trường Internet/Online càng trở nên thú vị và cho phép triển khai nhiều ý tưởng marketing sống động và đột phá dành cho người dùng hơn là chỉ dừng lại ở một website đơn giản. Khi đó Microsite ra đời.

Microsite thường là một site tách biệt so với Corporate Site, có thể được chạy trên sub-domain theo domain chính của Corporate Site, như http://aotm.piaggio.com.vn hoặc cũng có thể được chạy bằng một domain độc lập như http://trainghiemipay.vn. Việc dùng sub-domain có lợi ở chỗ các truy cập vào Microsite sẽ được tính cho domain chính, giúp thứ hạng của Corporate Site được tăng đáng kể và hỗ trợ tốt cho SEO của doanh nghiệp, các chỉ số mà campaign ngắn hạn đạt được không bị bỏ phí sau khi campaign kết thúc. Nhưng việc dùng domain độc lập cũng có cái lợi riêng. Nó giúp cho tên miền dễ nhớ, việc marketing cho chiến dịch thuận lợi hơn, user dễ tìm kiếm và phát hiện hơn trong quá trình tương tác với chiến dịch. Tất nhiên tên miền độc lập sẽ không hỗ trợ được cho site chính của doanh nghiệp cũng như việc làm SEO, nhất là khi phần lớn các Microsite thường bị “killed” hoàn toàn sau khi kết thúc chiến dịch.

Giao diện của Microsite cũng khác biệt. Nó không phải tuân thủ theo giao diện của Corporate Site, thậm chí hoàn toàn phá cách, phụ thuộc vào ý tưởng của chiến dịch. Đó là lý do vì sao Microsite thường đứng tách biệt, khó tích hợp trên cùng một giao diện Corporate Site. Hệ thống Navigation của Microsite cũng không nhất thiết phải tuân thủ theo Corporate Site, thông thường chỉ có một đường link ở Footer hoặc một vị trí khiêm tốn ở Menu liên kết tới Corporate Site. Nếu quá tham lam việc nhất định phải kéo user từ Microsite về Corporate Site thì cái lợi bất cập hại ở đây là người dùng phải trải qua một cú “shock” về trải nghiệm giao diện, khi 2 site có hệ thống Navigation và giao diện hoàn toàn khác biệt. Không nhiều user vui vẻ với việc nhảy giữa các Site cũng như không nhiều người biết quay trở lại giao diện trước để thực hiện tiếp thao tác dang dở trên Microsite như thế nào. Việc này gây ra nhiều bất tiện và khó chịu không đáng có so với việc tìm kiếm cơ hội tăng traffic cho Corporate Site. Vì suy cho cũng, nhiệm vụ của Microsite là phục vụ cho một chiến dịch, một mục tiêu marketing ngắn hạn cụ thể, chứ không phải là marketing cho Website chính.

Microsite có thể dùng vào những việc gì?

Câu hỏi đặt ra là: tại sao những người làm marketing không sử dụng luôn Corporate Site để thực hiện ý tưởng marketing của mình, vừa tận dụng được users sẵn có, tận dụng được thứ hạng của website và domain thống nhất, tránh được việc “thất lạc” người dùng, mà lại phải sử dụng tới Microsite?

Thông thường, một chiến dịch marketing có vòng đời khá ngắn, chỉ trong phạm vi vài tháng thậm chí vài tuần. Nếu triển khai một chiến dịch marketing trên chính Corporate Site thường yêu cầu một sự sắp xếp lại giao diện, thêm bớt các thành phần để có thể “sell” tốt nhất về chiến dịch để thu hút người dùng. Việc này thường khá mất thời gian và liên quan tới nhiều phòng ban khiến cho việc thay đổi không dễ dàng như mong đợi và tất nhiên không đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian của chiến dịch. Nhất là đối với những Doanh nghiệp/Nhãn hàng/Tập đoàn lớn, có quá nhiều chiến dịch cùng chạy một lúc, việc chọn ra một chiến dịch nào đó để đưa lên Corporate Site hoặc tổ chức để tất cả các chiến dịch đều cùng chạy một lúc trên Corporate Site gần như là không thể. Các marketer, các giám đốc bán hàng không thể chờ đợi được điều này, trong khi Microsite có thể đáp ứng tốt về thời gian. Hơn nữa, sẽ ra sao nếu chấp nhận thay đổi giao diện của Corporate Site phục vụ một chiến dịch ngắn hạn vài tuần, vài tháng sau đó lại phải chỉnh sửa lại giao diện sau khi đã hết chiến dịch? Tuy nhiên không phải không có doanh nghiệp chấp nhận làm chuyện này. Nhưng đó là cả một câu chuyện về tiền bạc, công sức và đội ngũ. Thường chỉ những doanh nghiệp lớn, có ngân sách lớn cho Digital hàng năm mới làm được như vậy. Chưa kể việc thay đổi Corporate Site ở một số doanh nghiệp lớn hoặc có dịch vụ đặc thù (như ngân hàng) cần phải có sự tham gia của phòng IT, và bộ phận này cũng như nghiệp vụ đặc thù của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu và tốc độ mà phòng marketing đưa ra.

Do Microsite chạy gần như hoàn toàn độc lập với Corporate Site nên không có hạn chế nào cho việc triển khai các ý tưởng marketing, từ giao diện cho đến nội dung (trừ hạn chế về mặt kỹ thuật sẽ nói ở phần sau). Đó có thể là một Microsite thông tin khuyến mại đơn thuần (Landing Pages), với các thông tin về sản phẩm, thông tin khuyến mại, quay số trúng thưởng, danh sách trúng giải…, chỉ mang tính tra cứu, tham khảo hỗ trợ cho một hoạt động Activation offline. Đó có thể là một Microsite chứa một hoặc nhiều game tương tác, có thể xây dựng như một flash game đơn giản cho tới một game giả tưởng phức tạp. Đó có thể là một Microsite dưới dạng một bài kiểm tra (test) hoặc một bản điều tra khảo sát (survey). Đó có thể là một Microsite cho phép các thành viên chủ động đăng tải nội dung (user generated content) theo một thể lệ cho trước vào một form có sẵn để làm nên nội dung sinh động cho site. Đó có thể là một Microsite mà ngay sau khi ghé thăm user sẽ được thưởng thức một màn trình diễn 3D, animation choáng ngợp mà không cần phải thực hiện bất kỳ thao tác nào, chỉ kinh ngạc theo dõi đi từ hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đó có thể là một Microsite với những nhân vật hoạt hình hoặc người thật đã được lập trình để đưa ra các yêu cầu, chỉ dẫn bằng giọng nói, hình ảnh để hướng dẫn người dùng thực hiện các tương tác với nhân vật để lần lượt trải nghiệm những điều thú vị trong game, cũng chính là những trải nghiệm về thương hiệu hoặc tham gia cùng kể câu chuyện thương hiệu với nhân vật. Đó có thể là một Microsite mà toàn bộ là full screen video và người dùng phải tương tác với video đó để tiếp tục theo dõi… Nói chung, không có giới hạn nào cho trí tưởng tượng của các maketer thì cũng không có giới hạn nào cho những nội dung trên Microsite, miễn là nó phục vụ tốt cho mục tiêu của chiến dịch Marketing.

Screen-Shot-2012-11-17-at-11.21.111-1024x505

Vì sao Marketer  lại thích Microsite hơn Facebook Page?

Để triển khai một Campaign ngắn hạn, có vẻ như các Marketer thích sử dụng Microsite hơn là FB Page. Ngoài lý do đã nêu ở Phần 1, thì một lý do lớn khiến các Marketer chuộng phương tiện này hơn ở mấy yếu tố: (1) Khả năng làm chủ giao diện, không hạn chế sáng tạo; (2) Làm chủ dữ liệu người dùng; (3) Khả năng kiểm soát các thống kê theo mong muốn. Nếu triển khai một chiến dịch trên FB Page, những người làm marketing phải phụ thuộc nhiều vào các thuật toán cũng như chịu sự áp đặt của FB, chưa kể FB không ngừng thay đổi và cập nhật các cách tính insight khác nhau khiến không ít Marketer hoang mang. Dữ liệu người dùng cũng hoàn toàn do FB kiểm soát. Trong trường hợp có bất kỳ sự cố, vi phạm nào hoặc bị đối thủ chơi xấu, nguy cơ Page bị dừng tạm thời hoặc mất vĩnh viễn rất cao, nhất là đối tác cung cấp dịch vụ quản lý Page làm ăn thiếu uy tín, sử dụng các Tips, Tricks mà FB không cho phép.

Trong khi đó, với Microsite, các Marketer có thể kiểm soát một cách chủ động dữ liệu người dùng, chủ động yêu cầu đối tác cung cấp dịch vụ đưa ra các tính năng, thông số thống kê gần với mong muốn của mình nhất, chủ động tích hợp với các công cụ thống kê uy tín hoặc Google Analytic để có được báo cáo đáng tin cậy.

Do không bị hạn chế về khuôn khổ thiết kế nên Microsite lý tưởng hơn so với FB Page trong việc xây dựng lên một nội dung hấp dẫn dưới dạng ảnh, video, phim, game để kể câu chuyện thương hiệu một cách sống động, có sức lay động và lan truyền cảm hứng. Hình ảnh thương hiệu vì thế cũng có thể xuất hiện nổi bật hoặc lôi cuốn hơn.

Khi nào Microsite không phải là một lựa chọn khôn ngoan?

Đó là khi bạn không có ý tưởng nổi bật (trừ những microsite phục vụ mục đích tra cứu, hỗ trợ các hoạt động offline). Một Microsite đơn điệu, nội dung nghèo nàn, nhàm chán, giao diện xấu sẽ là một sự lãng phí lớn. Bạn có thể phải bỏ ra rất nhiều tiền để lôi kéo user tới Microsite nhưng bạn lại không thể giữ chân họ được lâu, tỷ lệ rời bỏ trang (Bounce Rate) ngay sau lần truy cập đầu tiên sẽ rất cao cũng như thời gian lưu lại trên trang (Time On Site) ngược lại lại rất thấp. Như vậy bạn không khiến user tương tác với nội dung của chiến dịch cũng như không thể khiến họ tạo ra Conversion – đi tới cái đích bạn muốn.

Đó là khi ngân sách của bạn hạn hẹp (trừ khi bạn chỉ muốn làm một Landing Page mang tính thông báo đơn giản). Phần lớn các Microsite với các ý tưởng marketing sáng tạo, cần sự hỗ trợ của Multi-Media và những tương tác sâu đều khá đắt đỏ. Đôi khi chi phí cho một Microsite còn lớn hơn nhiều so với chi phí dành cho Corporate Site. Vì Corporate Site cấu trúc và nội dung thông tin khá đơn giản, trong khi Microsite được làm nên từ những ý tưởng phức tạp với những hiệu ứng phức tạp. Những Microsite có chi phí vài chục ngàn đô tại Việt Nam không phải là hiếm. Bên cạnh ngân sách xây dựng Microsite, bạn còn phải có ngân sách cho việc marketing cho Microsite để lôi kéo người dùng, đó chính là việc làm seeding, PR, Ad words, Display Ads… Tức là bạn chỉ nên nghĩ tới việc xây dựng Microsite khi bạn có một chiến dịch tương đối tổng thể, nguồn lực không quá hạn chế và có kế hoạch marketing khôn ngoan. Bạn phải có cơ chế cho nội dung của Microsite có khả năng tự viral, ví dụ như yêu cầu user invite thêm bạn bè để tăng điểm, tăng level trong game mà họ đang chơi để lôi kéo thêm người dùng mà không mất các chi phí marketing và quảng cáo.

Hiện nay số lượng người dùng smart phone và các thiết bị di động ngày càng tăng. Con số thống kê những người truy cập web từ các thiết bị này cũng đang phát triển nhanh chóng. Do đó bạn phải cân nhắc việc sử dụng Microsite như thế nào cho hợp lý, sử dụng công nghệ, ngôn ngữ nào. Các ý tưởng game phức tạp, hình ảnh đẹp mắt, sinh động lâu nay vẫn được thể hiện bằng Flash, nhưng với một số thiết bị như iPhone, iPad thì việc chạy một web flash là không thể, trong khi HTLM5 chưa hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu thiết kế như Flash cũng như đội ngũ có thể làm việc với HTML5 để sáng tạo ra những website có hiệu ứng phức tạp ở Việt Nam còn khá mỏng, và một lần nữa, chi phí lại là vấn đề hàng đầu khi bạn đứng trước lựa chọn này.

Có nên duy trì Microsite sau khi kết thúc chiến dịch không?

Đã có khá nhiều tranh cãi quanh vấn đề này. Nhiều người cho rằng việc lôi kéo được rất nhiều user tham gia vào Campaign, tạo ra được lượng traffic khổng lồ, sau đó đóng cửa Microsite là một việc làm lãng phí. Ban đầu nghe có vẻ thuyết phục, nhưng thực tế chi phí để duy trì Microsite với mong muốn giữ user và traffic không giảm thì vô cùng lớn, mà gần như không doanh nghiệp nào chịu nổi hoặc chịu chi trả. Cần phải xem vai trò ban đầu của Microsite là gì. Thực chất nó sinh ra chỉ để phục vụ một Campaign ngắn hạn, nếu nó đã làm tốt vai trò của mình và đạt được những mục tiêu cần thiết của Campaign thì việc duy trì nó sau đó là tốn kém không cần thiết. Điều gì cũng có tính hai mặt, nhưng việc tiếc nuối user và traffic của Microsite nêu ra ở đây có vẻ không phù hợp lắm, nếu thực sự cân nhắc về cái được và cái mất.

Doanh nghiệp không cần phải xoá bỏ Microsite hoàn toàn, chỉ cần duy trì chi phí domain và hosting (chi phí này không đáng kể) cho Microsite để làm như một Case tham khảo cũng không phải là một lựa chọn tồi. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng thích phương án này.

Tóm lại, để biết được Campaign ngắn hạn của bạn nên dùng FB hay Microsite, bạn cần phải đi từ mục tiêu marketing của mình cũng như khảo sát lại trực trạng và nguồn lực marketing của doanh nghiệp. Không nên chạy theo mốt hoặc thích sử dụng những thứ hoành tráng nhưng lại không thực sự cần thiết. Hai lựa chọn này hoàn toàn có thể bổ sung, hỗ trợ, làm tốt hơn lên cho nhau chứ không có tính triệt tiêu nhau. Bạn hoàn toàn có thể chạy một giai đoạn teaser trên FB Page để lôi kéo user vào Microsite hoặc ngược lại. Hoặc cùng lúc bạn có thể khiến user tương tác đồng thời cả trên FB Page và Microsite để hoàn thành một hành động game nào đó. Điều quan trọng là bạn phải hiểu rõ mỗi một công cụ có thể làm được gì, những ưu điểm cũng như hạn chế của từng công cụ trong việc thoả mãn mục tiêu marketing của mình.

Google+ tận dụng ưu thế từ nền tảng giao tiếp của Google

By Charlene Li

Tôi đang theo dõi việc ra mắt “Google+” với sự thích thú đặc biệt bởi vì trọng tâm của nó có vẻ chính là các công cụ “quản lý bạn bè”.

Quản lý bạn bè (friend management) là một thứ rất tai ương trong kinh nghiệm của tôi khi sử dụng Facebook, bởi vì tôi không muốn chia sẻ mọi thứ với tất cả mọi người. Tôi cũng đã phạm phải một sai lầm là chấp nhận làm bạn với quá nhiều lời mời kết bạn và kết quả là tôi chia sẻ rất ít những gì mang tính cả nhân trên tài khoản riêng của mình. Cho dù Facebook cũng có những công cụ như Groups và friend lists, nhưng chúng quá phức tạp và khó dùng.

Google vs. Facebook Google+ tận dụng ưu thế từ nền tảng giao tiếp của Google

Google+ tận dụng thực tế rằng bạn đã có những người bạn “thật” (real) trong danh sách của mình và thậm chí có thể đã được sắp xếp, phân loại trong sổ địa chỉ của bạn. Điều này là rõ ràng nhất nếu bạn đang sử dụng Gmail. Hãy nhìn vào sổ địa chỉ trong Gmail của bạn và bạn sẽ thấy top 20 contacts đã được xác định sẵn. Google biết điều này, và cũng biết ai là người bạn thường xuyên viết thư qua lại trong cùng một nhóm (ví dụ hội phụ huynh, câu lạc bộ sách, những người trong gia đình, .v.v…) và sử dụng những thông tin này để phân tích và gợi ý ra các nhóm một cách tự nhiên để bạn tham gia vào dưới hình thức các vòng tròn Google+ (Google+ Circles).

Google có thể tận dụng tất cả những thông tin về hành vi người dùng này vào việc giúp bạn dễ dàng quản lý các mối quan hệ của mình. Bởi vì càng đối diện với vấn đề này – với những người mà bạn chia sẻ thông tin, và với những gì mà bạn chia sẻ, sẽ cung cấp những phân tích thực sự quý báu trong việc phân loại một cách tự nhiên các mối quan hệ.

Bây giờ thì nói đến phần kinh khủng nhất là quyền riêng tư (privacy) – hãy nhớ rằng Google cũng “đọc” nội dung email của bạn và cho bạn xem các quảng cáo bên lề Gmail. Phần lớn chúng ta vượt qua được chuyện này. Nhưng sẽ thế nào nếu tôi trao quyền (nhớ là: sự cho phép là vô cùng quan trọng!) cho Google được phép gợi ý cho tôi nếu và khi nào tôi nên thêm (add) một ai đó vào nhóm của mình? Nếu tôi viết thư thường xuyên với một ai đó nói về việc đạp xe, Google+ có thể gợi ý rằng tôi nên add người đó vào vòng tròn (Circle) đạp xe của mình. Về cơ bản, bạn phải có một mối quan hệ sâu sắc và tin tưởng với Google ở nhiều cấp độ khác nhau thì điều này mới xảy ra được. Tuy nhiên nó lại có thể mang lại cho bạn lợi ích rất lớn. (Xem bài viết “In Google I Trust” – Tôi tin vào Google, của tôi để tìm hiểu thêm về chủ đề này).

Mức độ tin cậy đó sẽ tiến thêm một bước mới nếu bạn có một chiếc điện thoại Android. Bạn có sẵn sàng để Google điều tra các quan hệ, cuộc gọi, tin nhắn trên điện thoại của mình để giúp bạn xây dựng những trải nghiệm xã hội mới với những người mà bạn giao tiếp nhiều nhất không? Thế còn với các dữ liệu của Google Calender hay là Google Voice thì sao?

Tôi nói điều này bởi vì phần lớn các giao tiếp của tôi, cả ở mặt cá nhân lẫn công việc, đều chạy trên các nền tảng của Google. Facebook không có những phân tích sâu sắc về tất cả những chia sẻ thực (real) mà tôi có trong cuộc sống thực của tôi, trong khi Google thì làm được điều đó.

Tôi tin vào câu chuyện Google+ bởi Google có năng lực tự nhiên để lôi kéo các nhóm người dùng lại với nhau dựa trên những hình thức giao tiếp đã có, và cũng tận dụng các nhóm tự nhiên hiện đã sử dụng các nền tảng giao tiếp này. Sẽ không có khó khăn gì cho những người đang sử dụng Gmail bắt tay vào sử dụng Google+, nhưng sẽ khó khăn hơn nhiều đối với những người không dùng Gmail.

Kết quả là, việc chia sẻ trên nền tảng Google sẽ được thống nhất, ngược với việc thống nhất chia sẻ bằng tin nhắn. Điều này sẽ không xảy ra sau một đêm và sẽ còn xa Google mới trở thành “kẻ giết chết Facebook”. Đúng hơn, đó là một sự dịch chuyển thông minh của Google để tận dụng thế mạnh của nó trong các nền tảng giao tiếp, các thuật toán và sự tin tưởng của người dùng chủ chốt để đi vào bài toán social.

Cuối cùng, tôi không mong đợi Facebook sẽ đứng mãi như vậy. Bạn hãy chờ xem, trong một ngày không xa, Facebook sẽ sốt sắng cải thiện các công cụ quản lý bạn bè của mình. Nhưng cho dù thế nào, họ cũng sẽ thiếu sự thông minh cần thiết trong việc hiểu hành vi của người dùng để giúp tôi thực sự có thể quản lý được bạn bè của mình, trừ khi tôi là một người quá tôn sùng Facebook.

Link gốc: Google+ Leverages Google’s Strength as a Communications Platform

Asia Digital Marketing Yearbook 2011

Số thứ Năm của phiên bản hàng năm về Digital Marketing của khu vực Châu Á vừa được công bố, với nhiều dữ liệu và phân tích hơn bao giờ hết dành cho những người làm marketing trong khu vực.

Hiệp hội Digital Marketing Châu Á (ADMA) đã hợp tác với những công ty digital marketing và những chuyên gia nghiên cứu hàng đầu để cho ra đời ấn bản này. Phiên bản năm nay đã mở rộng các phân đoạn thị trường hơn, bao gồm cả social media cũng như có nhiều thông tin hơn về các đặc điểm nhân khẩu của người dùng online, thói quen của người dùng cũng như quảng cáo trực tuyến, mobile và thương mại điện tử.

Yearbook này được biên soạn nhằm phục vụ cho các đối tượng là những người làm marketing, các nhà quảng cáo, các đơn vị cung cấp dịch vụ và cho những ai quan tâm tới tiềm năng của digital trong hoạt động kinh doanh của mình tại khu vực Châu Á.

Yearbook gồm 98 trang và miễn phí cho thành viên đăng ký.

Bạn có thể  download tại đây

10 chiến dịch Viral Marketing thành công nhất năm 2009

Trong một năm được gọi là thảm họa suy thoái của nền kinh tế và việc thắt chặt ngân sách quảng cáo được áp dụng tối đa, các nhà quảng cáo buộc phải vừa duy trì tính sáng tạo nhưng vẫn phải cắt giảm tối đa nguồn lực. Dường như đó là lý do khiến cho năm 2009 trở thành một năm tuyệt vời cho cái gọi là “Viral Marketing” (tiếp thị lan truyền), khi mà quảng cáo trực tuyến đã bắt đầu sử dụng tới các phương tiện truyền thông xã hội như You Tube, Facebook và Twitter để đẩy mạnh thương hiệu của mình. Có lẽ thành công có tính lan truyền nhất trong năm là “ngôi sao sau một đêm” Susan Boyle, một cú bứt phá ngoạn mục mà ngay nhân vật truyền thông – giám khảo Simon Cowell cũng không thể dự đoán được, khi một đoạn thử giọng trong cuộc thi Britain’s Got Talent lại trở thành video được xem nhiều nhất từng thấy trên YouTube.

Tuy nhiên, bởi vì Susan Boyle không định quảng bá bất cứ điều gì ngoài việc bà mong muốn được vào vòng tiếp theo của cuộc thi, do đó bà không có tên trong danh sách dưới đây. Dưới đây là danh sách những chiến dịch viral marketing hàng đầu trong năm, sử dụng sự sáng tạo và internet để lôi cuốn khán giả trực tuyến.

1. Sheep LEDs


Samsung đi một đoạn đường dài bất thường để cho thấy sức mạnh của đèn LEDs ở một trong những sáng tạo ngoạn mục nhất mà bạn từng được chứng kiến.

2. Football Guitar Hero


Một chiến dịch quảng cáo viral kép cho cả nhóm rock Kassabia và nhãn hiệu đồ thể thao Umbro, là sự kết hợp giữa bóng đã và Guitar Hero để tạo nên một điều gì đó thực sự đặc biệt.

3. Bruce Lee Ping Pong


Không ai biết thực sự điều gì đã tạo cảm hứng cho Nokia thiết kế phiên bản dế Bruce Lee nhưng với một quảng cáo như thế này thì ai còn quan tâm tới điều đó nữa chứ?

4. Tron Legacy

Khi Disney muốn quảng bá Tron, họ sử dụng viral marketing online, nhấn mạnh vào sự trở lại của Kevin Flynn.

5. Vanilla Ice

Các Rapper thường không phải nổi tiếng bởi sự khiêm nhường hay óc hài hước, cho nên sẽ là một ngạc nhiên đáng kể khi thấy Vanilla Ice xin lỗi cho Ice Ice Baby là một phần trong chiến dịch Virgin Mobile.

6. NHS Pregnancy

Đây có thể dễ dàng được coi là một trong những video viral gây sốc nhất năm vừa qua và nó từng bị cấm trên YouTube khi mọi người nghĩ rằng đây là một cảnh có thật. Quảng cáo này nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề mang thai ở trẻ vị thành niên tại Anh.

7. Rage Against The Machine

Một chiến dịch trên Facebook thành công ngoài sức tưởng tượng.

8. Quiksilver

Nhãn hiệu thể thao Quiksilver muốn một cái gì đó thật khác biệt để quảng bá thương hiệu của mình.

9. IKEA

Một chiến dịch thành công khác trên Facebook của IKEA, tặng quà cho những ai tag vào ảnh của sản phẩm trên Facebook page của họ.

10. True Blood

Nếu như Twilight được biết đế với một ngân sách marketing khổng lồ đằng sau thì đối thủ của phim này chính là True Blood của HBO.

Nguồn: www.directtrafficmedia.co.uk

Nhân dịp Việt Nam đứng top 1 Spammer toàn cầu

“Sản lượng spam của Việt Nam đạt kỷ lục thế giới vào tháng 11/2009″ – Đây là tittle của một bài viết trên trang SpamFighter ngày hôm qua, bài viết có đoạn:
Theo một phân tích mới đây của Network Box, Việt Nam chiếm trên 10% tổng số lượng spam trên toàn cầu. Trong tháng 11/2009, mức độ nguy hiểm của malware vẫn ở mức cao, trong đó Việt Nam soán ngôi vị số 1 mà tháng trước thuộc về Brazil.
Mức độ spam đến từ Việt Nam tăng ở mức 3.4%, đẩy Brazil tụt xuống vị trí thứ hai (spam từ Brazil giảm 8.3% kể từ tháng 10/2009). Hàn Quốc xếp thứ ba trong danh sách này, với tốc độ tăng từ 1.5 lên 7.07%.
Vài tuần trước, Việt Nam đã “hân hạnh” lọt vào top những nước sản sinh ra lượng spam và virus nhiều nhất thế giới, và bây giờ đã trở thành “ngọn cờ đầu”. Tôi không dám bàn đến những vấn đề liên quan tới công nghệ, chỉ xin kể một mẩu chuyện liên quan tới câu chuyện này từ góc độ “digital marketing”.

Trong tháng 11 vừa rồi, một tạp chí chuyên ngành về Marketing trong góc “Chat với chuyên gia” có đăng tải một đoạn tư vấn dưới dạng trả lời câu hỏi của bạn đọc của một vị tổng giám đốc một hệ thống thương mại điện tử được coi là nổi tiếng nhất Việt Nam. Trong phần tư vấn của vị “chuyên gia” này, sau khi tư vấn cho bạn đọc làm thế nào để có được nội dung trang web tốt, sản phẩm phải như thế nào, thương hiệu như thế nào thì tư vấn kỹ về phần marketing, có đoạn: “Bạn cũng nên sử dụng các biện pháp online marketing như: spam qua Yahoo, Skype, Email…”

Chúng ta đang sống trong một đất nước mà cả chuyên gia và một bộ máy biên tập một tờ báo chuyên ngành marketing không phân biệt được giữa một bên là online marketing và một bên là spam, cái nào chính thống, cái nào được cổ vũ, cái nào không, thì trách sao được việc Việt Nam vươn lên top đầu spammer thế giới.

Bảo không thở dài là nói dối.