Facebook Page hay Microsite? (Phần 2)

Khi nào thì cần đến Microsite?

Những microsite đầu tiên bắt đầu được ứng dụng để hỗ trợ công việc Marketing là vào năm 1999 với những tập đoàn nổi tiếng hàng đầu như Sony. Đã hơn 1 thập kỷ kể từ ngày có khái niệm Microsite, hình thức này vẫn còn phát huy nhiều tác dụng trong việc hỗ trợ những người làm marketing thực hiện các ý tưởng táo bạo đối với nhóm công chúng mục tiêu tập trung chủ yếu trên Internet.

Phân biệt Corporate Site và Microsite

Trước tiên, nên phân biệt Microsite (hay còn được gọi là Minisite) với Corporate Site. Một doanh nghiệp thường có một website chính, gọi là Corporate Site, làm nhiệm vụ như một tài liệu marketing với những thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Cách đây vài năm tôi đã có một vài bài viết liên quan đến Corporate Site nói chung và Coporate Site ở Việt Nam nói riêng, các bạn có thể tham khảo thêm để hiểu rõ hơn và có định hướng đúng hơn khi xây dựng website doanh nghiệp.

Với một Corporate Site, nội dung thường ít thay đổi, thường là những nội dung xương sống để giúp khách hàng lần đầu cũng như khách hàng quen thuộc khi vào xem website có được cái nhìn cơ bản nhất về dịch vụ, sản phẩm, con người, lịch sử… của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào Digital Marketing thường có xu hướng thay đổi giao diện của Corporate Site theo đơn vị năm, hoặc thậm chí bất cứ khi nào có xu hướng mới được cập nhật về giao diện web trên thế giới. Phần lớn những lần thay đổi này đều tập trung vào giao diện (hình thức), và những cải tiến để nó đến gần với người dùng hơn, tiện lợi hơn. Doanh nghiệp cũng có thể thay đổi giao diện khi có sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm, hình thức dịch vụ mà một điểm nào đó cần phải được nhấn mạnh hoặc tháo bỏ. Thường các thay đổi này mang tính cấu trúc, còn nếu chỉ đơn thuần là thay đổi nội dung hiển thị thì với một website động, việc thay đổi hình ảnh, nội dung, hạng mục… chỉ tốn vài thao tác đơn giản.

Bên cạnh những phần thông tin “fix cứng” như đã nói ở trên, với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp năng động và doanh nghiệp quy mô lớn, thì việc chỉ sử dụng website vào việc giới thiệu doanh nghiệp, như một Contact form hay là một Portfolio, Credentials trên Internet không thể thoả mãn hết các nhu cầu trong việc làm tiếp thị của doanh nghiệp. Nhất là khi càng ngày môi trường Internet/Online càng trở nên thú vị và cho phép triển khai nhiều ý tưởng marketing sống động và đột phá dành cho người dùng hơn là chỉ dừng lại ở một website đơn giản. Khi đó Microsite ra đời.

Microsite thường là một site tách biệt so với Corporate Site, có thể được chạy trên sub-domain theo domain chính của Corporate Site, như http://aotm.piaggio.com.vn hoặc cũng có thể được chạy bằng một domain độc lập như http://trainghiemipay.vn. Việc dùng sub-domain có lợi ở chỗ các truy cập vào Microsite sẽ được tính cho domain chính, giúp thứ hạng của Corporate Site được tăng đáng kể và hỗ trợ tốt cho SEO của doanh nghiệp, các chỉ số mà campaign ngắn hạn đạt được không bị bỏ phí sau khi campaign kết thúc. Nhưng việc dùng domain độc lập cũng có cái lợi riêng. Nó giúp cho tên miền dễ nhớ, việc marketing cho chiến dịch thuận lợi hơn, user dễ tìm kiếm và phát hiện hơn trong quá trình tương tác với chiến dịch. Tất nhiên tên miền độc lập sẽ không hỗ trợ được cho site chính của doanh nghiệp cũng như việc làm SEO, nhất là khi phần lớn các Microsite thường bị “killed” hoàn toàn sau khi kết thúc chiến dịch.

Giao diện của Microsite cũng khác biệt. Nó không phải tuân thủ theo giao diện của Corporate Site, thậm chí hoàn toàn phá cách, phụ thuộc vào ý tưởng của chiến dịch. Đó là lý do vì sao Microsite thường đứng tách biệt, khó tích hợp trên cùng một giao diện Corporate Site. Hệ thống Navigation của Microsite cũng không nhất thiết phải tuân thủ theo Corporate Site, thông thường chỉ có một đường link ở Footer hoặc một vị trí khiêm tốn ở Menu liên kết tới Corporate Site. Nếu quá tham lam việc nhất định phải kéo user từ Microsite về Corporate Site thì cái lợi bất cập hại ở đây là người dùng phải trải qua một cú “shock” về trải nghiệm giao diện, khi 2 site có hệ thống Navigation và giao diện hoàn toàn khác biệt. Không nhiều user vui vẻ với việc nhảy giữa các Site cũng như không nhiều người biết quay trở lại giao diện trước để thực hiện tiếp thao tác dang dở trên Microsite như thế nào. Việc này gây ra nhiều bất tiện và khó chịu không đáng có so với việc tìm kiếm cơ hội tăng traffic cho Corporate Site. Vì suy cho cũng, nhiệm vụ của Microsite là phục vụ cho một chiến dịch, một mục tiêu marketing ngắn hạn cụ thể, chứ không phải là marketing cho Website chính.

Microsite có thể dùng vào những việc gì?

Câu hỏi đặt ra là: tại sao những người làm marketing không sử dụng luôn Corporate Site để thực hiện ý tưởng marketing của mình, vừa tận dụng được users sẵn có, tận dụng được thứ hạng của website và domain thống nhất, tránh được việc “thất lạc” người dùng, mà lại phải sử dụng tới Microsite?

Thông thường, một chiến dịch marketing có vòng đời khá ngắn, chỉ trong phạm vi vài tháng thậm chí vài tuần. Nếu triển khai một chiến dịch marketing trên chính Corporate Site thường yêu cầu một sự sắp xếp lại giao diện, thêm bớt các thành phần để có thể “sell” tốt nhất về chiến dịch để thu hút người dùng. Việc này thường khá mất thời gian và liên quan tới nhiều phòng ban khiến cho việc thay đổi không dễ dàng như mong đợi và tất nhiên không đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian của chiến dịch. Nhất là đối với những Doanh nghiệp/Nhãn hàng/Tập đoàn lớn, có quá nhiều chiến dịch cùng chạy một lúc, việc chọn ra một chiến dịch nào đó để đưa lên Corporate Site hoặc tổ chức để tất cả các chiến dịch đều cùng chạy một lúc trên Corporate Site gần như là không thể. Các marketer, các giám đốc bán hàng không thể chờ đợi được điều này, trong khi Microsite có thể đáp ứng tốt về thời gian. Hơn nữa, sẽ ra sao nếu chấp nhận thay đổi giao diện của Corporate Site phục vụ một chiến dịch ngắn hạn vài tuần, vài tháng sau đó lại phải chỉnh sửa lại giao diện sau khi đã hết chiến dịch? Tuy nhiên không phải không có doanh nghiệp chấp nhận làm chuyện này. Nhưng đó là cả một câu chuyện về tiền bạc, công sức và đội ngũ. Thường chỉ những doanh nghiệp lớn, có ngân sách lớn cho Digital hàng năm mới làm được như vậy. Chưa kể việc thay đổi Corporate Site ở một số doanh nghiệp lớn hoặc có dịch vụ đặc thù (như ngân hàng) cần phải có sự tham gia của phòng IT, và bộ phận này cũng như nghiệp vụ đặc thù của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu và tốc độ mà phòng marketing đưa ra.

Do Microsite chạy gần như hoàn toàn độc lập với Corporate Site nên không có hạn chế nào cho việc triển khai các ý tưởng marketing, từ giao diện cho đến nội dung (trừ hạn chế về mặt kỹ thuật sẽ nói ở phần sau). Đó có thể là một Microsite thông tin khuyến mại đơn thuần (Landing Pages), với các thông tin về sản phẩm, thông tin khuyến mại, quay số trúng thưởng, danh sách trúng giải…, chỉ mang tính tra cứu, tham khảo hỗ trợ cho một hoạt động Activation offline. Đó có thể là một Microsite chứa một hoặc nhiều game tương tác, có thể xây dựng như một flash game đơn giản cho tới một game giả tưởng phức tạp. Đó có thể là một Microsite dưới dạng một bài kiểm tra (test) hoặc một bản điều tra khảo sát (survey). Đó có thể là một Microsite cho phép các thành viên chủ động đăng tải nội dung (user generated content) theo một thể lệ cho trước vào một form có sẵn để làm nên nội dung sinh động cho site. Đó có thể là một Microsite mà ngay sau khi ghé thăm user sẽ được thưởng thức một màn trình diễn 3D, animation choáng ngợp mà không cần phải thực hiện bất kỳ thao tác nào, chỉ kinh ngạc theo dõi đi từ hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đó có thể là một Microsite với những nhân vật hoạt hình hoặc người thật đã được lập trình để đưa ra các yêu cầu, chỉ dẫn bằng giọng nói, hình ảnh để hướng dẫn người dùng thực hiện các tương tác với nhân vật để lần lượt trải nghiệm những điều thú vị trong game, cũng chính là những trải nghiệm về thương hiệu hoặc tham gia cùng kể câu chuyện thương hiệu với nhân vật. Đó có thể là một Microsite mà toàn bộ là full screen video và người dùng phải tương tác với video đó để tiếp tục theo dõi… Nói chung, không có giới hạn nào cho trí tưởng tượng của các maketer thì cũng không có giới hạn nào cho những nội dung trên Microsite, miễn là nó phục vụ tốt cho mục tiêu của chiến dịch Marketing.

Screen-Shot-2012-11-17-at-11.21.111-1024x505

Vì sao Marketer  lại thích Microsite hơn Facebook Page?

Để triển khai một Campaign ngắn hạn, có vẻ như các Marketer thích sử dụng Microsite hơn là FB Page. Ngoài lý do đã nêu ở Phần 1, thì một lý do lớn khiến các Marketer chuộng phương tiện này hơn ở mấy yếu tố: (1) Khả năng làm chủ giao diện, không hạn chế sáng tạo; (2) Làm chủ dữ liệu người dùng; (3) Khả năng kiểm soát các thống kê theo mong muốn. Nếu triển khai một chiến dịch trên FB Page, những người làm marketing phải phụ thuộc nhiều vào các thuật toán cũng như chịu sự áp đặt của FB, chưa kể FB không ngừng thay đổi và cập nhật các cách tính insight khác nhau khiến không ít Marketer hoang mang. Dữ liệu người dùng cũng hoàn toàn do FB kiểm soát. Trong trường hợp có bất kỳ sự cố, vi phạm nào hoặc bị đối thủ chơi xấu, nguy cơ Page bị dừng tạm thời hoặc mất vĩnh viễn rất cao, nhất là đối tác cung cấp dịch vụ quản lý Page làm ăn thiếu uy tín, sử dụng các Tips, Tricks mà FB không cho phép.

Trong khi đó, với Microsite, các Marketer có thể kiểm soát một cách chủ động dữ liệu người dùng, chủ động yêu cầu đối tác cung cấp dịch vụ đưa ra các tính năng, thông số thống kê gần với mong muốn của mình nhất, chủ động tích hợp với các công cụ thống kê uy tín hoặc Google Analytic để có được báo cáo đáng tin cậy.

Do không bị hạn chế về khuôn khổ thiết kế nên Microsite lý tưởng hơn so với FB Page trong việc xây dựng lên một nội dung hấp dẫn dưới dạng ảnh, video, phim, game để kể câu chuyện thương hiệu một cách sống động, có sức lay động và lan truyền cảm hứng. Hình ảnh thương hiệu vì thế cũng có thể xuất hiện nổi bật hoặc lôi cuốn hơn.

Khi nào Microsite không phải là một lựa chọn khôn ngoan?

Đó là khi bạn không có ý tưởng nổi bật (trừ những microsite phục vụ mục đích tra cứu, hỗ trợ các hoạt động offline). Một Microsite đơn điệu, nội dung nghèo nàn, nhàm chán, giao diện xấu sẽ là một sự lãng phí lớn. Bạn có thể phải bỏ ra rất nhiều tiền để lôi kéo user tới Microsite nhưng bạn lại không thể giữ chân họ được lâu, tỷ lệ rời bỏ trang (Bounce Rate) ngay sau lần truy cập đầu tiên sẽ rất cao cũng như thời gian lưu lại trên trang (Time On Site) ngược lại lại rất thấp. Như vậy bạn không khiến user tương tác với nội dung của chiến dịch cũng như không thể khiến họ tạo ra Conversion – đi tới cái đích bạn muốn.

Đó là khi ngân sách của bạn hạn hẹp (trừ khi bạn chỉ muốn làm một Landing Page mang tính thông báo đơn giản). Phần lớn các Microsite với các ý tưởng marketing sáng tạo, cần sự hỗ trợ của Multi-Media và những tương tác sâu đều khá đắt đỏ. Đôi khi chi phí cho một Microsite còn lớn hơn nhiều so với chi phí dành cho Corporate Site. Vì Corporate Site cấu trúc và nội dung thông tin khá đơn giản, trong khi Microsite được làm nên từ những ý tưởng phức tạp với những hiệu ứng phức tạp. Những Microsite có chi phí vài chục ngàn đô tại Việt Nam không phải là hiếm. Bên cạnh ngân sách xây dựng Microsite, bạn còn phải có ngân sách cho việc marketing cho Microsite để lôi kéo người dùng, đó chính là việc làm seeding, PR, Ad words, Display Ads… Tức là bạn chỉ nên nghĩ tới việc xây dựng Microsite khi bạn có một chiến dịch tương đối tổng thể, nguồn lực không quá hạn chế và có kế hoạch marketing khôn ngoan. Bạn phải có cơ chế cho nội dung của Microsite có khả năng tự viral, ví dụ như yêu cầu user invite thêm bạn bè để tăng điểm, tăng level trong game mà họ đang chơi để lôi kéo thêm người dùng mà không mất các chi phí marketing và quảng cáo.

Hiện nay số lượng người dùng smart phone và các thiết bị di động ngày càng tăng. Con số thống kê những người truy cập web từ các thiết bị này cũng đang phát triển nhanh chóng. Do đó bạn phải cân nhắc việc sử dụng Microsite như thế nào cho hợp lý, sử dụng công nghệ, ngôn ngữ nào. Các ý tưởng game phức tạp, hình ảnh đẹp mắt, sinh động lâu nay vẫn được thể hiện bằng Flash, nhưng với một số thiết bị như iPhone, iPad thì việc chạy một web flash là không thể, trong khi HTLM5 chưa hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu thiết kế như Flash cũng như đội ngũ có thể làm việc với HTML5 để sáng tạo ra những website có hiệu ứng phức tạp ở Việt Nam còn khá mỏng, và một lần nữa, chi phí lại là vấn đề hàng đầu khi bạn đứng trước lựa chọn này.

Có nên duy trì Microsite sau khi kết thúc chiến dịch không?

Đã có khá nhiều tranh cãi quanh vấn đề này. Nhiều người cho rằng việc lôi kéo được rất nhiều user tham gia vào Campaign, tạo ra được lượng traffic khổng lồ, sau đó đóng cửa Microsite là một việc làm lãng phí. Ban đầu nghe có vẻ thuyết phục, nhưng thực tế chi phí để duy trì Microsite với mong muốn giữ user và traffic không giảm thì vô cùng lớn, mà gần như không doanh nghiệp nào chịu nổi hoặc chịu chi trả. Cần phải xem vai trò ban đầu của Microsite là gì. Thực chất nó sinh ra chỉ để phục vụ một Campaign ngắn hạn, nếu nó đã làm tốt vai trò của mình và đạt được những mục tiêu cần thiết của Campaign thì việc duy trì nó sau đó là tốn kém không cần thiết. Điều gì cũng có tính hai mặt, nhưng việc tiếc nuối user và traffic của Microsite nêu ra ở đây có vẻ không phù hợp lắm, nếu thực sự cân nhắc về cái được và cái mất.

Doanh nghiệp không cần phải xoá bỏ Microsite hoàn toàn, chỉ cần duy trì chi phí domain và hosting (chi phí này không đáng kể) cho Microsite để làm như một Case tham khảo cũng không phải là một lựa chọn tồi. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng thích phương án này.

Tóm lại, để biết được Campaign ngắn hạn của bạn nên dùng FB hay Microsite, bạn cần phải đi từ mục tiêu marketing của mình cũng như khảo sát lại trực trạng và nguồn lực marketing của doanh nghiệp. Không nên chạy theo mốt hoặc thích sử dụng những thứ hoành tráng nhưng lại không thực sự cần thiết. Hai lựa chọn này hoàn toàn có thể bổ sung, hỗ trợ, làm tốt hơn lên cho nhau chứ không có tính triệt tiêu nhau. Bạn hoàn toàn có thể chạy một giai đoạn teaser trên FB Page để lôi kéo user vào Microsite hoặc ngược lại. Hoặc cùng lúc bạn có thể khiến user tương tác đồng thời cả trên FB Page và Microsite để hoàn thành một hành động game nào đó. Điều quan trọng là bạn phải hiểu rõ mỗi một công cụ có thể làm được gì, những ưu điểm cũng như hạn chế của từng công cụ trong việc thoả mãn mục tiêu marketing của mình.

Khi brand không hiểu được đúng nghĩa của 2 chữ "cộng đồng"

Năm ngoái, mình có chạy một loạt campaigns cho một nhãn hàng. Chạy từ đầu năm tới cuối năm, vị chi cũng khoảng 4 cái nhỏ trong một cái concept lớn. Nói chung có rất nhiều cảm xúc, chủ yếu là vui vì tự mình thấy được thành công của mình, hạn chế của mình, học được rất nhiều cái, đặt ra được những mục tiêu cụ thể, gỡ bỏ được những hạn chế cụ thể, và tuyệt vời nhất là phát triển được team của mình một cách tương đối toàn diện để có thể chạy tốt các digital campaign.

Cũng năm ngoái, nhiều người hỏi xin mình các tổng kết, đánh giá inhouse về hiệu quả của các campaign này. Mình có share trực tiếp với một vài đối tác trong ngành, nhưng chưa share final report một cách cụ thể với mọi người. Đánh giá chung, theo nhận định cảm tính của mọi người là bên mình làm khá thành công, nhưng hôm nay mình muốn chia sẻ một thất bại, đứng từ phía người làm và mong muốn chia sẻ để những người thực sự đang quan tâm tới việc làm marketing từ cộng đồng có một cái nhìn critical khi tiếp cận vấn đề này.

Cũng trong năm ngoái, một số bạn đặt ra cho mình câu hỏi: vì sao cũng là campaign do Time Universal thực hiện, và trong đó có một channel được chọn để triển khai là Facebook Page, nhưng một cái thì thành công rực rỡ còn một cái thì có thể coi là thất bại thảm hại? Câu trả lời chính là những gì mình muốn chia sẻ, khi tình cờ ghé qua Page của client này sáng nay (hiện  bên mình không còn take care các chương trình của client này năm nay nữa).

So với con số fan bên mình để lại từ cuối năm ngoái, cho đến ngày hôm nay fan của page này gần như đứng im. Các tương tác trên trang cũng èo uột y như hồi bên mình làm vậy. Có một post đạt tới hơn 10,000 impression, nhưng chi tiết của thông số này khá đáng buồn:

Oganic: hơn 2,000

Viral: gần 2,000

Paid: hơn 9,000

Tỷ lệ talking about this là 8% (hiện nay đang là giai đoạn cao điểm của một campaign đang chạy).

Vì sao lại như vậy? Vì sao cả Time Universal và agency đang chạy chương trình năm nay cho nhãn hàng này đều thất bại như vậy? Câu trả lời nằm ở nhận thức của client đối với việc làm cộng đồng. Mặc dù trong suốt thời gian hơn 1 năm, team của TU đã tìm nhiều cách để educate về cách làm social marketing cho team của client nhưng gần như không có kết quả. Có 2 lý do: (1) client quá mù quáng đối với thương hiệu của chính mình, (2) client không hiểu hai chữ “cộng đồng” có nghĩa gì. Trong trường hợp nhãn hàng này, họ mắc cả 2 lỗi trên.

Client này không cho phép đăng những post “hầu” cộng đồng, mà chỉ nói một chiều về brand, về product, về những thứ liên quan đến brand spirit. Client này tin tưởng mình là một “beloved brand” nên chắc chắn cộng đồng sẽ crazy về những gì mà họ viết ra. Và quan trọng nhất họ không có social media policy nói chung cũng như không có hiểu biết về social media và quan tâm quá nhiều tới từng wall post mà không nhìn trong một tổng thể môi trường và cách vận hành của social networks.

Thất bại liên tiếp của nhãn hàng này đối với FB Page nói riêng và với social marketing nói chung là một bài học đối với những người làm marketing tại các doanh nghiệp, tập đoàn đang thực sự chi ngân sách hàng năm cho digital marketing.

Công thức thật ra rất đơn giản, mình đã chia sẻ rất nhiều lần ở nhiều dịp rồi: khi sử dụng social media trong marketing, bạn phải biết cách nói chuyện, bạn chỉ là một trong số những người ngồi xuống bàn và nói về câu chuyện thương hiệu của bạn thôi. Còn nếu bạn muốn là host của chiếc bàn đó, hãy tỏ ra là một chủ nhà hiếu khách, luôn khiến khách khứa cảm giác như họ đang ở chính ngôi nhà của mình. Chừng nào bạn muốn áp đặt câu chuyện của mình lên cộng đồng của bạn, chừng đó bạn còn phải trả nhiều nhiều tiền để có được cái tỷ lệ impression như ví dụ ở trên.

Tất nhiên mục tiêu cuối cùng của bạn là áp đặt vào tâm trí cộng đồng đúng cái mà bạn muốn, nhưng phải hiểu cách, biết cách để khéo léo đạt được mục tiêu của mình. Trong trường hợp đó cái tôi của brand phải vô cùng linh hoạt.

Social media không dễ như vậy. Nhìn vậy mà hổng phải vậy.

 

Google+ tận dụng ưu thế từ nền tảng giao tiếp của Google

By Charlene Li

Tôi đang theo dõi việc ra mắt “Google+” với sự thích thú đặc biệt bởi vì trọng tâm của nó có vẻ chính là các công cụ “quản lý bạn bè”.

Quản lý bạn bè (friend management) là một thứ rất tai ương trong kinh nghiệm của tôi khi sử dụng Facebook, bởi vì tôi không muốn chia sẻ mọi thứ với tất cả mọi người. Tôi cũng đã phạm phải một sai lầm là chấp nhận làm bạn với quá nhiều lời mời kết bạn và kết quả là tôi chia sẻ rất ít những gì mang tính cả nhân trên tài khoản riêng của mình. Cho dù Facebook cũng có những công cụ như Groups và friend lists, nhưng chúng quá phức tạp và khó dùng.

Google vs. Facebook Google+ tận dụng ưu thế từ nền tảng giao tiếp của Google

Google+ tận dụng thực tế rằng bạn đã có những người bạn “thật” (real) trong danh sách của mình và thậm chí có thể đã được sắp xếp, phân loại trong sổ địa chỉ của bạn. Điều này là rõ ràng nhất nếu bạn đang sử dụng Gmail. Hãy nhìn vào sổ địa chỉ trong Gmail của bạn và bạn sẽ thấy top 20 contacts đã được xác định sẵn. Google biết điều này, và cũng biết ai là người bạn thường xuyên viết thư qua lại trong cùng một nhóm (ví dụ hội phụ huynh, câu lạc bộ sách, những người trong gia đình, .v.v…) và sử dụng những thông tin này để phân tích và gợi ý ra các nhóm một cách tự nhiên để bạn tham gia vào dưới hình thức các vòng tròn Google+ (Google+ Circles).

Google có thể tận dụng tất cả những thông tin về hành vi người dùng này vào việc giúp bạn dễ dàng quản lý các mối quan hệ của mình. Bởi vì càng đối diện với vấn đề này – với những người mà bạn chia sẻ thông tin, và với những gì mà bạn chia sẻ, sẽ cung cấp những phân tích thực sự quý báu trong việc phân loại một cách tự nhiên các mối quan hệ.

Bây giờ thì nói đến phần kinh khủng nhất là quyền riêng tư (privacy) – hãy nhớ rằng Google cũng “đọc” nội dung email của bạn và cho bạn xem các quảng cáo bên lề Gmail. Phần lớn chúng ta vượt qua được chuyện này. Nhưng sẽ thế nào nếu tôi trao quyền (nhớ là: sự cho phép là vô cùng quan trọng!) cho Google được phép gợi ý cho tôi nếu và khi nào tôi nên thêm (add) một ai đó vào nhóm của mình? Nếu tôi viết thư thường xuyên với một ai đó nói về việc đạp xe, Google+ có thể gợi ý rằng tôi nên add người đó vào vòng tròn (Circle) đạp xe của mình. Về cơ bản, bạn phải có một mối quan hệ sâu sắc và tin tưởng với Google ở nhiều cấp độ khác nhau thì điều này mới xảy ra được. Tuy nhiên nó lại có thể mang lại cho bạn lợi ích rất lớn. (Xem bài viết “In Google I Trust” – Tôi tin vào Google, của tôi để tìm hiểu thêm về chủ đề này).

Mức độ tin cậy đó sẽ tiến thêm một bước mới nếu bạn có một chiếc điện thoại Android. Bạn có sẵn sàng để Google điều tra các quan hệ, cuộc gọi, tin nhắn trên điện thoại của mình để giúp bạn xây dựng những trải nghiệm xã hội mới với những người mà bạn giao tiếp nhiều nhất không? Thế còn với các dữ liệu của Google Calender hay là Google Voice thì sao?

Tôi nói điều này bởi vì phần lớn các giao tiếp của tôi, cả ở mặt cá nhân lẫn công việc, đều chạy trên các nền tảng của Google. Facebook không có những phân tích sâu sắc về tất cả những chia sẻ thực (real) mà tôi có trong cuộc sống thực của tôi, trong khi Google thì làm được điều đó.

Tôi tin vào câu chuyện Google+ bởi Google có năng lực tự nhiên để lôi kéo các nhóm người dùng lại với nhau dựa trên những hình thức giao tiếp đã có, và cũng tận dụng các nhóm tự nhiên hiện đã sử dụng các nền tảng giao tiếp này. Sẽ không có khó khăn gì cho những người đang sử dụng Gmail bắt tay vào sử dụng Google+, nhưng sẽ khó khăn hơn nhiều đối với những người không dùng Gmail.

Kết quả là, việc chia sẻ trên nền tảng Google sẽ được thống nhất, ngược với việc thống nhất chia sẻ bằng tin nhắn. Điều này sẽ không xảy ra sau một đêm và sẽ còn xa Google mới trở thành “kẻ giết chết Facebook”. Đúng hơn, đó là một sự dịch chuyển thông minh của Google để tận dụng thế mạnh của nó trong các nền tảng giao tiếp, các thuật toán và sự tin tưởng của người dùng chủ chốt để đi vào bài toán social.

Cuối cùng, tôi không mong đợi Facebook sẽ đứng mãi như vậy. Bạn hãy chờ xem, trong một ngày không xa, Facebook sẽ sốt sắng cải thiện các công cụ quản lý bạn bè của mình. Nhưng cho dù thế nào, họ cũng sẽ thiếu sự thông minh cần thiết trong việc hiểu hành vi của người dùng để giúp tôi thực sự có thể quản lý được bạn bè của mình, trừ khi tôi là một người quá tôn sùng Facebook.

Link gốc: Google+ Leverages Google’s Strength as a Communications Platform

Google có quá chậm chân với dự án Google+?

Thứ ba vừa rồi Google đã thông báo về một nền tảng mạng xã hội mới với tên gọi “the Google+ project”. Dự án này rõ ràng có bóng dáng của Facebook nhưng liệu nó có thành công không, hay lại đi theo con đường của Google Buzz, Orkut hay Google Wave?

Chắc chắn sẽ có rất nhiều đồn thổi, tôi không hề có ý định chơi chữ ở đây, về “dự án Google+” này, và sau tất cả những gì Google đã có, chắc chắn dự án này sẽ nhận được sự quan tâm của rất nhiều người. Rất nhiều bài báo đã viết về dự án này, và tôi mời bạn, ở đây thì có chơi chữ, hãy Google “the Google+ project” và tìm đọc thêm.

Một bài báo khiến tôi chú ý đó là bài đăng trên The New York Times. Trong bài báo này, họ đưa ra một lập luận hết sức thuyết phục rằng Google thực tế có thể đã quá chậm chân trong màn khiêu vũ Social Media, và họ đưa ra dẫn chứng rằng “Vào tháng Năm vừa qua, có 180 triệu người truy cập các sites của Google, bao gồm cả YouTube, trong tương quan so sánh với 157.2 triệu người truy cập Facebook, theo thống kê của comScore. Nhưng những người dùng Facebook đã đọc 103 tỷ trang và dành trung bình 375 phút cho sites này, trong khi người dùng Google chỉ đọc có 46.3 tỷ trang và dành 231 phút.”

Bạn hãy tính đến độ chênh giữa 103 tỷ trang của Facebook và hơn 46 tỷ trang của Google.

Một trong những lợi thế cạnh tranh (hay còn gọi là USP) lớn nhất của Google, hoặc ít nhất là Google đang hy vọng như vậy, đối với dự án này là việc thiết kế đặc biệt để người dùng lựa chọn chia sẻ nội dung với các nhóm (groups) ví dụ như bạn bè, gia đình, đồng nghiệp .v.v… chứ không cùng lúc chia sẻ với tất cả các bạn bè có trong danh sách, và quan trọng hơn là với tất cả thể giới trên internet như khi viết trên Facebook.

Tôi không chắc lắm nếu chỉ mình tính năng này có thể đủ để thuyết phục mọi người sử dụng thêm một mạng xã hội nữa, cho dù mạng đó có được đi dưới cái tên Google. Một lần nữa, tôi lại nhắc đến việc đã xảy ra như đối với các dự án Google Buzz, Orkut và Google Wave như là các dẫn chứng điển hình được đánh số A, B, C để thấy rằng có thêm chữ Google trong tên gọi không thể đảm bảo một tương lại rực rỡ cho một dự án nào đó.

Tiếp đến chính bản thân tên gọi của dự án này, theo Vic Gundotra, Phó Chủ tịch Cao cấp của Google, người giám sát các sản phẩm social của Google, thì chữ “Plus” (cộng) phản ánh một thực tế rằng “đây là một sản phẩm của Google và Google sẽ làm cho nó tốt hơn, và chữ “dự án” được dùng bởi vì nó không phải là một sản phẩm mà sẽ là một bộ các sản phẩm.” Trong khi đó thì nguồn tin nội bộ, theo như New York Post, cho biết dự án này được trong nhà gọi là “Emerald Sea”.

Nếu chỉ có 2 lựa chọn để gọi tên, tôi sẽ chọn Emerald Sea. Ít nhất nó gợi lên được tầm nhìn của Dorothy và Toto cùng những cộng sự của mình và tất cả những điều đẹp đẽ khác.

“the Google+ project” có vẻ như đang trở thành một đối thủ trực tiếp của Facebook, nhưng ngài Gundotra nói nó không chỉ có vậy. “Chúng tôi không cố gắng để thay thế những gì hiện có, chúng tôi chỉ muốn đem đến một cách kết nối mới trên môi trường online giữa bạn và những người bạn thực sự quan tâm.”

Và nếu bạn tin vào điều đó… bạn đã hiểu ý tôi rồi đấy! Và có thể ngài Gundotra đã thành thực khi nói Google không cố gắng thay thế “cái hiện có” một cách nói không trực diện ám chỉ Facebook nhưng có một điều chắc chắn là Google thèm muốn miếng bánh mạng xã hội đang phát triển chưa từng có và đã mệt mỏi đứng nhìn ngài Zuckerberg làm mưa làm gió.

Và nếu bạn đang quan tâm, thì đây là một đoạn video ngắn Google thực hiện để giới thiệu “the Google+ project”.

Link gốc: Is Google Too Late with the Google+ Project?

Asia Digital Marketing Yearbook 2011

Số thứ Năm của phiên bản hàng năm về Digital Marketing của khu vực Châu Á vừa được công bố, với nhiều dữ liệu và phân tích hơn bao giờ hết dành cho những người làm marketing trong khu vực.

Hiệp hội Digital Marketing Châu Á (ADMA) đã hợp tác với những công ty digital marketing và những chuyên gia nghiên cứu hàng đầu để cho ra đời ấn bản này. Phiên bản năm nay đã mở rộng các phân đoạn thị trường hơn, bao gồm cả social media cũng như có nhiều thông tin hơn về các đặc điểm nhân khẩu của người dùng online, thói quen của người dùng cũng như quảng cáo trực tuyến, mobile và thương mại điện tử.

Yearbook này được biên soạn nhằm phục vụ cho các đối tượng là những người làm marketing, các nhà quảng cáo, các đơn vị cung cấp dịch vụ và cho những ai quan tâm tới tiềm năng của digital trong hoạt động kinh doanh của mình tại khu vực Châu Á.

Yearbook gồm 98 trang và miễn phí cho thành viên đăng ký.

Bạn có thể  download tại đây

Những thống kê “khủng” về Facebook

Chúng ta nói rất nhiều về cuộc cách mạng số trong đó truyền thông truyền thống đang bị đặt trước những cụm từ: biến động, thụt giảm về độc giả và công chúng, phá sản, nhường sân chơi… Bài viết này sẽ cập nhật những thông tin và số liệu mới nhất về vấn đề này.

Bức tranh vào năm 2011 thực sự trông như thế nào? Truyền thông truyền thống không chết – hoặc ít nhất là chưa chết. Nhưng rất nhiều tay chơi mới đã tiến vào lãnh địa marketing trong vòng từ 10 đến 15 năm qua. Hãy nhìn những gì xảy ra với Facebook.

mark Những thống kê khủng về Facebook

Độ phủ

Toàn cầu

  • 700 triệu thành viên trên toàn cầu (theo SocialBakers / Mashable 2011/05)
  • Cứ 13 người có mặt trên trái đất thì có 1 người trên Facebook
  • Nếu Facebook là một quốc gia thì nó sẽ là quốc gia lớn thứ 3 trên thế giới, lớn hơn Mỹ, Brazil, Nga và Nhật Bản.
  • Facebook hiện hữu ở 70 ngôn ngữ trên toàn cầu (Theo Facebook press room).
  • 70% người dùng Facebook sống bên ngoài nước Mỹ (Theo Facebook press room).
  • Ngành phát thanh mất 38 năm để đạt được con số 50 triệu người nghe. Truyền hình mất 13 năm. Internet mất 4 năm… Còn Facebook chỉ mất ít hơn 9 tháng để đạt được con số 100 triệu người dùng. Các ứng dụng trên iPhone dành cho Facebook được tải về (tổng cộng) đạt 1 tỷ trong vòng 9 tháng.
  • Mỗi ngày có 700,000 người mới tham gia vào Facebook (Theo DBA Worldwide)

Mỹ

  • Là site đứng thứ 3 về chia sẻ video được xem nhiều nhất tại Mỹ vào tháng 7/2009 tính trên số lượt xem (Theo Nielsen VideoCensus)
  • Hàng tháng, 113 triệu người Mỹ có mặt trên Facebook (Theo Compete Inc 9 June 2009)
  • 33% dân số Mỹ là thành viên của Facebook (theo @JustinSmith)
  • 33.3% số người online ở Mỹ đọc tin tức nhờ Facebook (Theo Razorfish FEED09)
  • 100 triệu visitors vào tháng 11 2009 tại Mỹ = 5.5% tổng số thời gian online (so với 2.5% năm 2008) (theo comScore Nov.09)
  • 62.4% dân số Mỹ dùng Facebook hàng tháng so với 24.3% số người sử dụng MySpace (theo comScore 2010/09)
  • 42.3% dân số Mỹ sử dụng Facebook hàng tháng (theo eMarketer 2011/02)
  • 33% số người sử dụng online video (58.6M) xem video trên Facebook (243 video/người) khiến Facebook trở thành trang chia sẻ video lớn thứ 2 sau Google/YouTube, lớn hơn Yahoo (theo Marketing Charts 2010/08)

Trung Quốc

facebook funny e1298361775169 Những thống kê khủng về Facebook

Canada

  • 19.6 triệu người Canada, 3.5 triệu người nói tiếng Pháp sử dụng Facebook (theo comScore 2009/07)
  • 62% dân số Quebec (cho dù có dùng pc hay không) hoạt động trên Facebook hàng tháng (theo comScore 2010/08 + StatsCan)
  • 26% người Canada kết nối trực tuyến trên Facebook hàng ngày so với 4% sử dụng YouTube, 4% dùng MySpace và 3% cho Twitter (theo Cossette 2009/11)

Pháp

  • 15 triệu người Pháp sử dụng Facebook thường xuyên (theo Mashable) tương đương với cứ 4 người thì có 1 người dùng!
  • 95% thành viên của tất cả các mạng xã hội ít nhất đều có mặt trên Facebook, 60% sử dụng hàng ngày (theo Jean-Nicolas Reyt)
  • 30.4% những người dùng Internet tại Pháp sử dụng Facebook (theo Inside Facebook 2010/08)

Anh

  • 6.2% lượt truy cập của tất cả các website tại Anh là vào trang Facebook. (theoHitwise Mars 2010)
  • Facebook chiếm 50% toàn bộ traffic của tất cả các mạng xã hội tại Anh, tiếp đến là YouTube chiếm 17%, Twitter chiếm 2% và MySpace at 1.3%
  • 44.2% số người sử dụng Internet tại Anh truy cập Facebook (theo Inside Facebook 2010/08)

Nhật

  • 3% số người dùng Internet tại nước này dùng Facebook thường xuyên và mỗi tháng chỉ dành cho nó 31 phút. (theo Jean-Nicolas Reyt)

Đặc điểm người dùng

  • Trung bình một người dùng Facebook có 130 bạn (Theo Facebook press room)..
    • Độ tuổi trung bình của người dùng là 26
    • Mỗi tháng một người dùng quay trở lại Facebook trên 40 lần và mỗi lần dành cho nó 23 phút
    • Mỗi người like 80 trang cộng đồng, nhóm và sự kiện (community pages, groupes or events)
    • Mỗi người tạo ra 90 mục nội dung mỗi tháng
    • Mỗi ngày có 30 tỷ nội dung được chia sẻ
    • Mỗi tháng có 770 tỷ lượt xem trang (page views)
  • Nhóm người dùng phát triển nhanh nhất trên Facebook là phụ nữ ở độ tuổi 55-65. (Theo Facebook press room).
  • Phụ nữ chiếm ưu thế hơn trên Facebook với 57% (theo InformationIsBeautiful.net)
  • Facebook là mạng xã hội được Baby Boomers yêu thích hơn so với các mạng khác (theo eMarketer via Six Pixels of Separation)
  • 57% số thành viên nữ ở độ tuổi 18-34 cho biết họ nói chuyện với những người bạn online nhiều hơn so với offline.(theo Oxygen Media 2010/07)
    • 39% cho biết họ kết nối nhờ Facebook
    • 34% cho biết lướt Facebook là việc làm đầu tiên trong ngày, trước cả việc đi vệ sinh, đánh răng hay chải đầu…
    • 21% mở Facebook ra đọc vào nửa đêm
    • 42% tin rằng không có gì bất ổn nếu đăng những ảnh say xỉn của bản thân lên Facebook
    • 50% cảm thấy không có vấn đề gì trong việc kết bạn với những người hoàn toàn lạ
    • 9% phụ nữ trên Facebook đã chia tay bạn trai của mình bằng Facebook, với nam giới, tỷ lệ này là 24%.
  • 23% số người trên 50 tuổi thích Facebook hơn MySpace và Twitter (theo AARP 2010/06).

facebook funny Những thống kê khủng về Facebook

Mức độ sử dụng

  • 35 triệu người dùng cập nhật trạng thái (status) mỗi ngày (theo Website Monitoring Blog và Facebook press page)
    • 60 triệu status được update mỗi ngày (theo Facebook Blog).
    • 10 triệu người dùng trở thành fan của một nhãn hàng nào đó mỗi ngày (theoFacebook Blog).
    • Hiện có 45 triệu nhóm người dùng trên FB (theo Facebook Blog).
    • 3 tỷ bức ảnh được up lên mỗi tháng
    • 5 triệu nội dung được up lên mỗi tuần
    • 3.5 triệu sự kiện được tạo ra mỗi tháng
    • 3 triệu trang doanh nghiệp (business pages) đang hoạt động trên Facebook
    • 1.5 triệu doanh nghiệp tạo ít nhất một page
    • Hàng ngày có 20 triệu người dùng trở thành fan của một page nào đó
  • Trung bình, một người trẻ tuổi truy cập Facebook trên 16 lần / tuần (theo Cossette2009/11)
  • Năm 2010, Facebook có nhiều lượt truy cập hơn so với Google theo Experian Hitwise (Mashable (2010/12) chiếm 8.93% số lượt truy cập của tất cả các website tại Mỹ so với Google chiếm 7.19%.
  • Trung bình mỗi người đọc 661.8 trang nội dung mỗi tháng trên Facebook, cao hơn rất nhiều so với đối thủ gần nhất là Hi5 với 351.2 trang và MySpace là 261.8 trang (theo Pingdom.com)
    • Tính số pages view trên mỗi lượt truy cập, Friendster cao nhất với 30 page views, sau đó là Hi5 (29.3), Bebo (28.3), Facebook (23.6) và MySpace (21.8).
    • Tính lượt truy cập hàng tháng, Facebook chiếm ưu thế với con số 28 ngày/tháng (gần như là hàng ngày), theo sau là Hi5 (12 ngày), MySpace (12 ngày), Slashdot (11 ngày) và Twitter (9 ngày)
  • Các nghệ sỹ nhận trung bình 92 likes và 17 comments cho mỗi post trên Facebook, so với tỷ lệ này của báo chí là 57 & 43 và các thương hiệu là 54 & 9 (theo Visibli 2011/04)
    • 50% số Likes tích lũy được trong vòng 20 phút sau khi post

9 57 Những thống kê khủng về Facebook

Sử dụng trên Mobile

  • 250 triệu truy cập thông qua các thiết bị di động hàng ngày (theo MediaPost 2011/04)
  • Người sử dụng Facebook bằng mobile năng động gấp đôi so với những người không dùng mobile để truy cập Facebook (theo Facebook Blog).

Thời gian sử dụng

  • 120 triệu thành viên truy cập vào Facebook hàng ngày – trên 5 tỷ phút được sử dụng mỗi ngày (tương đương với 83,3 triệu giờ, hay 3,47 triệu ngày, hay 496 000 tuần, hoặc 9 539 năm!!!).
  • Trung bình một người dành 15 giờ 33 phút mỗi tháng = 32 phút mỗi ngày (bao gồm cả cuối tuần)
    • 8 tỷ phút được dành cho Facebook mỗi ngày (theo Facebook Blog).
  • Là trang đứng đầu về số thời gian truy cập chiếm 11.6% toàn bộ thời gian online của nước Mỹ so với Yahoo (4.25%) và Google (4.1%) (theo Compete.com 2010/01)

Nguồn nhân lực

Sử dụng trong Marketing

  • 99% các nhà bán lẻ trực tuyến có tài khoản Facebook
  • 37% số người dùng theo dõi một nhãn hàng độc quyền nào đó (theo Razorfish Nov.09)
  • Trên 300 000 công ty có mặt trên Facebook.
  • 77% số Fan Pages trên Facebook có ít hơn 1 000 fans (theo TechCrunch/Sysomos)
  • 4% số Fan Pages trên Facebook có nhiều hơn 10 000 fans (theoTechCrunch/Sysomos)
  • 11.9% số Fan Pages trên Facebook là các trang dành cho sản phẩm, chủ yếu 46% trong số này là các sản phẩm giải trí (phim, nhạc, các ngôi sao, video games…) (theo TechCrunch/Sysomos)
  • Trung bình, một Fan Page có 4 596 fans (theo Sysomos) Các sản phẩm hàng đầu là:
    • Starbucks – 5 113 068 fans
    • Dippin’ Dots – 898 722
    • In-N-Out – 417 190
    • Domino’s Pizza – 323 856
    • Subway – 321 396
  • Facebook (với 23%) là công cụ social với giá trị sử dụng lớn thứ 2 đối với các nhà marketing, chỉ đứng sau LinkedIn (26%) và cao hơn Twitter (17%) (theo Unisfair).
  • 56% những người mua sắm trực tuyển tại Mỹ tham khảo trên Facebook trước tiên để tìm các mẹo mua sắm cũng như các bình luận về sản phẩm (theo ForeSee Results 2010)
  • 87% những người làm marketing cho các doanh nghiệp nhỏ trên toàn cầu sử dụng Facebook, là công cụ social media đứng thứ 2 mà họ sử dụng, sau Twitter (theo (Social Media Marketing Industry Report 2010)
  • 66% các trang trên Top 100 của comScore tại Mỹ và 50% Top 100 các site trên toàn cầu có tích hợp với Facebook (theo Danny Brown)
  • 55% sử dụng tại văn phòng (theo Jean-Nicolas Reyt)
  • $0.56 = trung bình CPM, thấp hơn 4 lần so với trung bình online vào khoảng 2.43$ (theo Jean-Nicolas Reyt)
  • 17%  số người sử dụng Facebook sẵn sàng mua sản phẩm, dịch vụ của một nhãn hàng mà họ follow / like, so với 37% trên Twitter và 27% qua email (theoExactTarget eMarketer 2010/09)
    • 21% số người sử dụng Facebook sẵn sàng giới thiệu một nhãn hàng họ thích, so với tỷ lệ này ở Twitter là  33% và 24% đối với email
  • 36% số fans của các nhãn hàng trên Facebook muốn mua sản phẩm của công ty mà họ thích nhờ vào nút “Like” hơn trước kia, so với 61% những sản phẩm không không có like (theo DDB Worldwide / OpinionWay Research 2010/10)
  • 1.86 tỷ $ là doanh số quảng cáo trên Facebook năm 2010 (theo Mashable 2011/01)
  • 50% = hiệu quả quảng cáo trên Facebook so với bất kỳ nơi nào trên web. (theo Jeff Bullas 2011/02)
  • Twitter và Facebook có ảnh hưởng (28%) tới sức mua của Holiday Shopping (theo comScore)
  • Facebook được coi là TỐI QUAN TRỌNG đối với 44% các công ty ở Bắc Mỹ vào năm 2011 (theo eMarketer / HubSpot 2011/02)
  • Thống kê trung bình dành cho top 100 thương hiệu trên Facebook (theo Wongdoody / eMarketer 2011/02)
    • 1.8 triệu fans
    • 24 posts mỗi tháng
    • 857 fan posts mỗi tháng
    • 1,456 likes mỗi tháng
    • 157 comments mỗi tháng
    • 88% post video
    • 82% trưng cầu ý kiến/câu chuyện từ fan
    • 79% cho phép fans viết tự do lên wall
    • 66% tích cực trả lời các post của fan
  • 95% các doanh nghiệp nhỏ tại Mỹ sử dụng social media để làm online marketing sử dụng Facebook, sau đó đến Twitter 60%, LinkedIn 58% và YouTube 45% (theoConstant Contact 2011/03)
    • 82% coi Facebook là một công cụ marketing hiệu quả, tỷ lệ này là 73% đối với YouTube, 55% đối với các giao dịch trên địa bàn và 47% đối với Twitter & LinkedIn
    • 95% sử dụng website marketing, 91% dùng email marketing, 77% dùng quảng cáo báo in, 53% dùng event marketing và 69% sử dụng quảng cáo online.
  • Facebook Connect chiếm 35% thời gian sử dụng của toàn bộ người dùng web trên thế giới, so với 31% dành cho Google, 13% dành cho Yahoo, 7% dành hco Twitter. (theo Janrain 2011/04)
    • Facebook Connect chiếm 58% thời gian chia sẻ nội dung của người dùng, so với 32% dành cho Twitter, 13% dành cho LinkeIn và 9% dành cho Yahoo.

Nguồn Performance Indicators: Facebook

Bạn nghĩ gì về Facebook?

Tờ TIME tiến hành “phỏng vấn” những người sử dụng Facebook – trên chính Facebook, tất nhiên – về việc họ sử dụng mạng xã hội này như thế nào và nó có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống của họ. Dưới đây là 20 câu trả lời được chọn đăng. Còn với bạn, Facebook có ý nghĩa như thế nào?

Bạn tham gia Facebook khi nào và tại sao?


Randa Guastala, Brooklyn, N.Y.

“Tôi tham gia FB vài năm rồi, để “do thám” các con tôi, và tôi nhận ra rằng muốn làm được việc đó tôi phải là bạn của chúng.”

Lacey Hancher, Garfield, N.J.

“Tôi đã bị ép tham gia FB khi người hướng dẫn của tôi ấn tôi ngồi xuống trước máy tính và nói FB là cách duy nhất tôi có thể kết bạn ở trường.”

Mike Costello, Carver, Oregon

“Khoảng 2 năm trước, bởi vì tôi đã chán MySpace rồi.”

Điều hay ho nhất hoặc kỳ quặc nhất xảy đến với bạn trên FB?


Sandra Ryan, Dublin, Ireland

“Hay ho nhất ư? Tôi đã gặp bạn trai tôi. Và dở nhất à? Cũng chính là việc tôi đã gặp anh ta.”

Sue Bromen, Belle Plain, Minn.

“Điều hay nhất xảy đến với tôi là được nghe mọi người gọi tôi là bà nội “hip” 71 tuổi vì tôi biết sử dụng FB”.

Ana-Marija Ana-mi, Zagreb, Croatia

“Tôi đã yêu một người bạn cũ nhờ FB, người khi đó sống cách tôi nửa vòng trái đất và bây giờ chúng tôi đang sống cùng nhau”.

Rocío Jaimes, Caracas, Venezuela

“Mọi người tag tôi vào những bức ảnh “không đỡ nổi”.

Warren Barrett, Houston, Texas

“Tôi đã giới thiệu FB cho bạn gái của mình, qua đó cô ấy tìm lại tình yêu cũ từ hồi đi học, người mà cô ấy không gặp trong suốt 30 năm qua, và quay lại với anh chàng ấy, sau đó bay ra nước ngoài để tìm đến với anh ta. Thật may là chúng tôi đã chia tay.”

Hãy điền vào chỗ trống


Tynee Seno, Lapu-Lapu City, Phillipines

“Nhìn chung, tôi dành 4 giờ mỗi ngày cho FB, nhiều hơn thời gian tôi ra ngoài.”

Jessica Longhi, Brick, N.J.

“Nhìn chung, tôi dành 5 giờ mỗi ngày cho FB, nhiều hơn thời gian tôi tìm việc.”

Cuộc đời của bạn sẽ thế nào nếu không có FB?


Adiguna Wijaya-Abundjani, Jambi, Indonesia

“Sẽ như bầu trời không có sao”

Barrett Blake, San Diego, Calif.

“Sẽ lạnh lẽo và tăm tối”

Cherry Livesay, Salem, Oregon

“Tôi sẽ phải quay lại xem TV và có thể là chơi tú trên máy tính”.

Adam Daly, Maidenhead, U.K.

“Một thứ khác có thể sẽ ra đời và thay thế nó”.

Jen Yeré, Medellín, Colombia

“Tôi thậm chí không thể tưởng tượng được. Có thể sẽ giống cảm giác sống ở những năm 90″.

Hassan Merhi, Dearborn, Mich.

“Bình thường”.


Gần đây bạn có điều chỉnh lại cài đặt về thông tin cá nhân của bạn trên FB không?


Brian Cottingham, Raleigh, N.C.

“Có, tôi điều chỉnh mấy tuần trước, khi FB mở thông tin cá nhân của người dùng cho các site khác. Tôi không tin tưởng FB sẽ là người giữ kín thông tin cá nhân và thông tin về tài khoản người dùng trên Internet.”

Bạn có muốn thay đổi điều gì ở FB không?


Talita Camargo, São Paulo, Brazil

“Tôi sẽ thích nút “dislike” lắm!

Patrick Miller, Scarsdale, N.Y.

“Không còn các quảng cáo làm phiền, gây nhiễu, không có mục tiêu, lặp đi lặp lại. Gmail cũng có quảng cáo nhưng không làm phiền, có xác định đối tượng và đa dạng, tôi thường xuyên click vào quảng cáo trên Gmail. Còn với FB, chính xác là tôi click vào quảng cáo đúng một lần”.

Bạn thích điều gì nhất ở FB?


Christina DeLouise, New York, N.Y.

“Điều tôi thích là được nhìn ảnh của mọi người, bất kể họ đến từ đâu.”

7 bí quyết và các ví dụ điển hình về viral marketing

Xin giới thiệu một bài viết cũ của tác giả Thomas Baekdal về “7 bí quyết viral marketing” với những ví dụ có thể được xem là kinh điển khi sử dụng video như là một chiến thuật chính cho các chiến lược Viral Marketing (tiếp thị lan truyền).

——-
Viral Marketing (hay marketing truyền miệng) thực sự là một hình thức rất hấp dẫn. Bạn hãy nghĩ về điều này nhé… thay bằng đầu tư một khoảng tiền khổng lồ một cách tuyệt vọng vào các quảng cáo báo giấy, các quảng cáo trên TV hay các banner, bạn gần như không phải làm gì nhiều ngoài việc hãy để cho “fans” của bạn làm tất cả.

Với viral marketing, chiến dịch của bạn bỗng chốc có đời sống riêng của nó, và nó bắt đầu lan ra như một loại virus. Tất cả mọi người đều muốn được nhìn thấy nó, và một khi họ thấy rồi, tất cả trong số họ đều muốn chia sẻ nó.

Hình thức này vô cùng mạnh mẽ, nó thường mạnh gấp 500 đến 1000 lần so với tác động bạn nhận được từ những quảng cáo thông thường.

Nhưng làm thế nào?

Có rất nhiều bí quyết để tiến hành trong viral marketing. Dưới đây là 7 trong số đó:

1: Hãy khiến mọi người cảm nhận

Bí quyết quan trọng nhất chính là tạo ra một cảm xúc thực sự mạnh. Bạn cần một quan điểm, để thể hiện một ý tưởng với sự cam kết và cống hiến. Bạn muốn mọi người phải:

  • chan chứa tình yêu hoặc ghét bỏ
  • rất vui sướng hay vô cùng tức giận
  • là một thiên tài hoặc gã ngốc
  • đồng cảm sâu sắc hay ruồng bỏ

Bạn muốn máu trong huyết quản của mọi người phải chảy rần rật.

Hãy bỏ qua những gì trung tính hay cố làm hài lòng tất cả mọi người, hoặc chỉ hỗ trợ một số nhóm nhất định hoặc bất kỳ cách gì khác để chiếm được tình cảm. Viral marketing 100% là vấn đề của cảm xúc.

2: Hãy làm một điều gì đó bất ngờ

Bản thân điều này đã tự lý giải cho chính nó. Nếu bạn muốn mọi người phát hiện ra chiến dịch của bạn, bạn phải làm một điều gì đó khác thường, một điều gì đó ngoài cả mong đợi của mọi người. Hãy quên ngay việc bạn cố gắng quảng bá sản phẩm của bạn cho dù việc này đúng là rất tốt, nhưng ai ai cũng làm việc đó. Hãy quên luôn cả việc bạn cố gắng làm cho sản phẩm của bạn trông thật hoàn hảo – khắp nơi nơi, ai cũng làm việc đó cả rồi.

Hãy nhớ tới câu chuyện một con gấu bị một người đàn ông tấn công. Đó có phải là điều bất thường không? Và đó chính là một trong những quảng cáo viral thành công nhất từ trước tới nay.

Nhưng trên hết hãy nhớ là đừng là một kẻ copy tội nghiệp.

3: Đừng cố gắng quảng cáo (thật ngốc!)

Một trong những sai lầm lớn nhất các công ty thường phạm phải là khi nghĩ tới viral marketing, họ thường cho rằng đó chính là các quảng cáo mà mọi người chia sẻ cho nhau. Hoàn toàn không phải vậy! Marketing truyền thống làm cái việc quảng bá sản phẩm, chỉ cho mọi người thấy sản phẩm đó tốt như thế nào, đưa nó ra giữa sân khấu – và nói chung là ích kỷ một cách không thể tưởng tượng nổi (và có thể sử dụng cả các siêu mẫu hay ngôi sao điện ảnh hỗ trợ cho việc này). Nhưng hãy đoán xem, kết quả là chẳng có ai quan tâm cả.

Viral marketing lại khác, nó không phải là câu chuyện sản phẩm mà là những câu chuyện hay. Khi BMW đưa ra bộ phim BMW, gia vị chính để nấu lên bộ phim này không phải là những chiếc ô tô của hãng này, mà là một câu chuyện. Thay thế những chiếc xe bằng một thứ khác, mà nó vẫn đạt hiệu quả tuyệt vời. Khi SONY xây dựng quảng cáo TV Bravia, sản phẩm này thậm chí còn chưa được mọi người nhìn thấy chứ đừng nói tới chuyện là nhớ tới nó.

Hãy quên bản thân bạn, sản phẩm hay công ty bạn đi. Tập trung hoàn toàn vào việc tạo ra một câu chuyện hay và thú vị. Chắc chắn bạn hoàn toàn có thể đưa sản phẩm của bạn vào trong câu chuyện này, nhưng nó chắc chắn không được trở thành nhân vật quan trọng nhất của câu chuyện.

4: Làm thêm những phần tiếp theo

Mọi người đều đã thấy chiến dịch của bạn. Họ nghĩ đó là một chiến dịch hay, ngoài mong đợi và cảm xúc của họ đã được chạm đến ở mức cao nhất – bạn đã thu được sự quan tâm hoàn toàn ở họ. Bạn nên làm gì bây giờ?

Theo thông lệ, các công ty sẽ không làm gì nữa, và đó là một sai lầm lớn. Khi bạn đã làm cho mọi người quan tâm là khi bạn phải hành động, và một trong những cách hay nhất là đem đến cho mọi người nhiều hơn những gì họ muốn – đó là làm thêm những phần tiếp theo. Có thể là bằng rất nhiều cách, như:

  • Làm thêm một số phim tương tự nữa có cùng “concept” (ý tưởng) với phim đầu tiên, như những phim mà BMW hay Nissan đã làm.
  • Có thể là những đoạn phim quay cảnh hậu trường
  • Những cảnh buồn cười hay bất tiện trong quá trình làm phim
  • Blog về quá trình làm phim (như Nissan đã làm)
  • Các tài liệu, con người liên quan
  • Hoặc là có thể làm tất cả những điều liệt kê trên đây

Không bao giờ để mọi người đứng không

Tuy nhiên: đừng đặt đồng hồ đếm ngược cho các phần tiếp theo ví dụ cho mọi người biết trước là mỗi tuần hay hai tuần một lần bạn sẽ cho ra một tập phim mới. Tần suất chú ý của mọi người không dài tới mức như thế, cho nên bạn hay đem cho họ ngay lập tức cái họ muốn.

5: Cho phép chia sẻ, download và embed

Chia sẻ chính là toàn bộ ý tưởng của viral marketing. Tất cả những gì bạn phải làm là làm thế nào để chiến dịch của bạn được thực hiện một cách dễ dàng nhất. Điều này đồng nghĩa với việc bạn cần phải cho phép mọi người làm những việc sau đây:

  • Download nội dung ở một format có thể sử dụng được (ví dụ file video định dạng MPG hay file ảnh định dạng JPG…)
  • Cho phép họ dễ dàng nhúng (embed) nội dung vào trang của họ (lưu ý các vấn đề liên quan tới bandwidth)
  • Cho phép gửi cho bạn bè bằng link hoặc gửi thẳng nội dung
  • Xuất bản trên nhiều mạng xã hội khác nhau như Digg, YouTube…
  • Cho phép mọi người thêm vào các trang bookmarking.

Lưu ý: Nếu không làm khéo thì việc này cũng có thể trở thành quá mức. Chắc chắn bạn không muốn biến trang của bạn thành một mớ hỗn độn toàn các biểu tượng “hãy chia sẻ” hay “hãy đánh dấu”…

6: Kết nối bằng các bình luận

Một trong những thành tố quan trọng nữa là phải kết nối với công chúng của bạn. Hãy nhớ là bạn đã lôi kéo được sự quan tâm của họ, họ đang rất phấn kích và bây giờ họ đang muốn phát biểu. Comment là một trong nhưng cách tốt nhất để làm việc này.

Hãy luôn nhớ rằng chiến dịch viral marketing tốt nhất chính là chiến dịch tạo ra được cảm xúc mạnh nhất. Điều này đồng nghĩa với việc một số người sẽ rất thích trong khi đó lại có một số người rất tức giận. Bạn phải chấp nhận đón nhận cả hai luồng bình luận và hai luồng ý kiến. Nhưng đồng thời bạn cũng phải ngăn chặn những cá nhân muốn gây ra một cuộc chiến thực sự với những người xung quanh.

Xóa comment từ những người tấn công người khác không phải là tội lỗi, hoặc nếu comment đó lạc đề. Nhưng sẽ là có tội nếu xóa comment từ những người chỉ đưa ra một quan điểm không tích cực nào đó.

Và, quan trọng nhất là bạn phải kết nối với mọi người thông qua các comment như là một cách trò chuyện lại với họ. Bạn không nên viết comment khi bản thân bạn không muốn tham gia vào cuộc trò chuyện.

7: Không bao giờ hạn chế truy cập

Viral marketing cũng chính là việc để cho chiến dịch của bạn sống đời sống riêng của nó – lan tỏa như một loại virus. Để làm được việc đó, để được lan tỏa, nó cần phải được tự do.

Không bao giờ giới hạn:

  • Không bắt mọi người phải đăng ký
  • Không bắt đăng ký thành viên
  • Không bắt phải download bằng một phần mềm đặc biệt
  • Không phải nhập mã “mở khóa”
  • hay phải làm bất kỳ việc nào đó để có được đường link họ muốn

Viral marketing xa lạ với khái niệm độc quyền, mà nó là việc “mang ra ngoài kia cho tất cả cùng xem”.

Một thông điệp chung cho tất cả các bí quyết này, đó là bạn cần phải thực hiện đúng cách, bằng không thì không nên làm. Chỉ những chiến dịch viral marketing tốt nhất mới tạo ra được kết quả, nếu không sẽ thành trò vớ vẩn hết.

Nếu bạn có thêm bí quyết nào của riêng mình, hãy cùng chia sẻ.

————————

Các chiến dịch viral rất hay khác

The Smirnoff viral

Một trong những chiến dịch viral thành công đầu tiên trên “Kỷ nguyên YouTube”

Berlitz language

Ban đầu không được xây dựng để trở thành một chiến dịch viral marketing nhưng những chàng trai người Đức ngốc ngếch và ngày thứ sáu đã nhanh chóng thay đổi mọi thứ.

Một công ty bánh bích quy

Cũng như thế, chiến dịch này không phải thiết kế ra để “lan truyền” nhưng những yếu tố bất ngờ đã khiến video này được mọi người chia sẻ.

Cuộc cách mạng của Dove

Một chiến dịch viral thực sự, cho thấy vẻ đẹp nhân tạo – và nó thực sự đem lại kết quả!

The Escalator

Một chiến dịch viral khác cũng rất hiệu quả.

Copy Goes Here

Một đoạn phim rất buồn cười của Coudal Partners, lấy chính các công ty quảng cáo ra làm trò cười.

BaekdalMONKEYS

Một bộ phim nhằm quảng bá “Actual Browser Sizes“. Phim này có tới 800 lượt người xem trong vòng vài ngày cho dù chỉ với vài hiệu ứng viral rất hạn chế.

HP FingerSkilz

Chiến dịch viral của HP

SMCon, tưởng thế nào…

Các bạn chém ác liệt thế này mà đêm qua mình ngủ ngon, ngày hôm nay ăn ngon, thật đúng là không biết xấu hổ là gì :”>

(Các bạn ạ, lúc nào tự kỷ là mình nói rất nhiều, xin lỗi các bạn nhé :D)

Có mấy ý như sau:

1. Đã chấp nhận tham gia SM là chấp nhận những bình luận không tốt về mình, cho dù nó xuất phát từ lý do có thực hay là bị nói oan (cái này đã nói hôm qua trong hội thảo rồi, nhai lại).

2. Tổ chức không tốt: Một số bạn phát biểu hội thảo này chưa xứng, thì tôi không hiểu đấy là xứng gì? 😀 Tầm của anh Tân Ng à? Hội thảo này so với mục tiêu đề ra ban đầu thì có thể nói là ok, vì mục tiêu của nó ngay từ đầu chẳng có gì là quá tham vọng cả, vì nó không phải là một hội thảo quốc gia, hay của một hội nghề nghiệp hay của một cơ quan nghiên cứu, mà chỉ là hội thảo của một nhóm người người quan tâm và đang muốn tìm hiểu SM, và đây là một hội thảo opened ngay từ đầu, ai thích thì tham gia, ai cũng có thể làm diễn giả hoặc nhà tổ chức và ai cũng có quyền đóng góp nội dung (xem lại trang của hội thảo trên wiki). Tóm lại là một hội thảo của những người thích thì nói cho nhau nghe.

3. Người nghe: là những người tự xem xét và đăng ký (chỉ có một số bạn bè là do các diễn giả đích thân mời, trong đó có khá nhiều nhà báo), không có một khách mời nào phải trả tiền hoặc cho những người tổ chức hội thảo tiền để làm, nên không có đáp án nào là đúng với kỳ vọng của tất cả những người tham dự.

3. Diễn giả: đều là những người rất bận rộn (trừ anh TânNg :D), có người đêm trước khi đến mới kịp chuẩn bị slide, tinh thần ngay từ đầu là có gì góp nấy và trên tinh thần CHIA SẺ CHỨ KHÔNG PHẢI CHỨNG TỎ, vì tôi chủ quan cho rằng tất cả các diễn giả ở đây đều rất ý thức được việc mình đang là ai, đứng ở đâu. Chính vì mọi người đều biết mình không phải là Mr. Biết Tuốt hay Guru gì đó, nên tinh thần là nói ra cái gì mình biết thôi, không khẳng định nó làm đáp án cuối cùng cho mọi câu hỏi. Bản thân bài nói của tôi tôi cũng không hài lòng, và có một bạn nhận xét rất đúng trên Twitter ngay sau khi tôi nói xong, đó là tôi viết trong slide thì tốt, nhưng nói ra thì dở ẹc khi chứng minh bằng các ví dụ. Cái này bạn ấy nói chuẩn không cần chỉnh, vì trước khi nói tôi đã hình dung ra được việc này, vì thú thật tôi không được tập trung cho lắm khi chuẩn bị slide này cũng như không đủ thời gian để xem lại nó, nên rất thiếu mạch lạc so với thông thường.

4. Nội dung: Bạn nào đó nói nội dung quá a, b, c so với trình độ của bạn ấy, thì tôi rất tò mò và muốn được diện kiến bạn ấy để học hỏi thêm. Tôi biết trong số những người đến nghe có những người rất giỏi, là chuyên gia của lĩnh vực công nghệ cũng như truyền thông, nhưng ngược lại lại có những người không biết gì (vì cả hai đối tượng này đều có những người tôi quen và biết rõ), và có một thực tế là cho dù họ là chuyên gia công nghệ rất giỏi, hay nhà báo kỳ cựu, thì theo như những gì tôi biết, SM vẫn là xa lạ với họ. Có lẽ trình độ của tôi và những người tôi biết quá a, b, c nên vẫn đánh giá cao những bài thuyết trình về Tumbler hay WordPress, Twitter. Trên live chat của các bạn trên linkhay, nhiều người phàn nàn cái hội thảo dở hơi này toàn nói về FB mới cả twitter, wordpress mà chả nói được cái gì ghê gớm. Tôi thì nghĩ tìm hiểu kỹ các công cụ và cách sử dụng các công cụ này cho có ích, chính là sờ được bản chất của SM. Tôi là người dùng wp cho mục đích marketing, bản thân tôi cũng cảm thấy có rất nhiều thứ học được từ bài thuyết trình về WordPress. Hay Tumbler tôi mới chỉ có account chứ chưa thực sự sử dụng nó thì tôi ước giá như phần này dài hơn, nói kỹ hơn, nhiều ví dụ hơn. Tôi cũng ước có nhiều thời gian để ai đó nói về cách tạo một Fan Pages trên FB như thế nào cho có hiệu quả, hay run một chiến dịch quảng bá sản phẩm/dịch vụ/thương hiệu qua Twitter như thế nào… Tất cả những cái này cho dù nôm na mách qué, nhưng nói cho ra nhẽ thì 1 ngày cũng chưa hết.

Tôi hiểu lý do vì sao các diễn giả nói thiếu lửa, vì thời gian anh Tân Ng cho nói chỉ là 30 phút/bài, tôi nói mất 1 tiếng mà chả đi đến đâu, vì thực tế tất cả các chủ đề này đều phải nói cả ngày mới ra đầu ra đũa nên ai cũng bị áp lực nói sao cho hết ý trong khi thực tế không thể nói cho hết trong vòng 30 phút.

Nhiều bạn không thích bài của anh Thăng và bảo nó chẳng liên quan gì, tôi thì thích những gì anh ấy chia sẻ, bởi đơn giản là tôi thấy tôi học được từ đó.

Bài nói của Ice-Tài Trần, cái hay nhất mà tôi thấy đó là những người QUÁ TRẺ nhưng lại ý thức được việc xây dựng thương hiệu cá nhân và cách bảo vệ nó, riêng điều đó đã ăn điểm rồi, chưa kể các bạn ấy chia sẻ họ đang làm như thế nào để có được nó.

Bài của TrangNeu bị coi là PR trong khi có thể nhìn nhận với tư cách là một người đang xây dựng một sản phẩm SM và chia sẻ kinh nghiệm làm nó, đó là bài duy nhất trong hội thảo này với tư cách là người làm. Rất buồn nếu cứ nhìn là suy nghĩ phê phán nảy ra trước suy nghĩ khuyến khích.

Còn những bài như của Việt, của Tuấn (anh Vĩnh nói) hay bài của anh Tân, không thấy mọi người nói nhiều? Vì không hay hay là vì không hiểu? Hay phải khen để tỏ ra là mình cũng hiểu?

Nhân tiện cảm ơn anh Tân Ng đã không thích bài của em, vì nếu anh nói khác đi em sẽ không đánh giá anh cao lắm 😀 và cũng không đúng phong cách của anh lắm 😀 . Ngược lại, cảm ơn các bạn vì quý mến mình mà đã động viên.

Hoado nằm trong danh sách 20 người VN chém gió và tán nhảm nhiều nhất trên Twitter :D

Bài viết của blog danhbaweb 2.0

Xem thêm tại LinkHay

Danh sách 20 người Việt dùng Twitter bạn nên follow

Danh sách này được mình sắp xếp bằng tay, có tham khảo thêm tại Twitter Grader. Toàn là những gương mặt rất quen thuộc và nổi tiếng trong mảng công nghệ.

image Tài Trần
www.Taitran.com
Follow: @taitran
Hot blogger nổi tiếng hiện nay, yêu thích các số liệu, hoạt động rất sôi nổi tại Twitter, Linkhay, Tumblr, Facebook … – Following:2.001
– Followers:1.314
– Update: 1184
image Anh Hùng
www.fresco20.com
Follow: @anhhung
Tech blogger, đồng tổ chức Barcamp Sài Gòn, H3 Hacker Happy Hour – Following: 637
– Followers: 659
– Update: 4761
image Huyền Chip
www.huyenchip.com
Follow: @chipro
Có mặt khắp nơi trên các mặt trận Internet, hiện Chip đang làm cho Báo Mới và vẫn viết bài cho các báo . – Following: 371
– Followers: 517
– Update: 2139
image Nguyễn Thế Tân
VC Corp (Vietnam)
Follow: @tanng
Ông trùm của Internet Việt Nam, nói chung là mình rất hâm mộ bác Tân – Following: 30
– Followers: 300
– Update: 614
image Ninh Nguyễn
ninhnv.com
Follow: @xoai
Hiện đang là manager của Linkhay, rất am hiểu về Social Media – Following: 139
– Followers: 289
– Update: 829
image ePi.Longo
www.buzz.tl
Follow: @ePi_Longo
Tweet thường xuyên trên Twitter, hiện đang quản lý cho Báo Mới . – Following: 255
– Followers: 295
– Update: 2440
image Nguyễn Đức Ban
www.ducban.com
Follow: @ducban
Bác Ban là một Web Designer và có phong cách viết blog rất hay. Đang làm cho Asaleo jsc – Following: 155
– Followers: 314
– Update: 2339
image Minh Bui
VC Corp (Vietnam)
Follow: @javacola
Anh Mình đang làm manager cho mảng Social Media tại VCCorp. – Following: 67
– Followers: 147
– Update: 326
image Mintran
min.frexy.com
Follow: @mintran
Founder of Frexy và IconEden.com. Một Designer nổi tiếng. Ấn tượng với các bộ Icon của anh – Following: 169
– Followers: 380
– Update: 2543
image Đỗ Quang Tú
Yeuamnhac
Follow: @doqtu84
Marketer online, hồi trước làm cho Cyworld – Following: 179
– Followers: 262
– Update: 2064

Tham khảo thêm 10 hot user tại twitter:

@khanhlnq: a mobile GIS geek, JVNMobileGIS’ owner (http://bit.ly/jvnmobilegis)
@hoado: Time Universal Communications. PR & Communications, Design & Creative, Web-based services, Social Media …
@sonnymotives: Internet we trust, đang làm cho Vega
@ixx2u: bác này chắc hot nhất trong năm 2008
@blogviet: Make Money Online – SEO – SEM – Blogging Tips
@dlead: A half computer geek, film making and marketing
@forty4vn: Web Designer
@thatsgood: anh này đang làm bên Én bạc và Rồng bay, nói chung là mảng TMĐT
@letunglam: A Vietnamese Web Designer
@giaiphapso: Make money online, online marketing, eCommercial, Social Network, Blogger, IT …

Và đừng quên follow mình nhá: @banhaclong20